mở đầu cho Ngô Quang Hòa Lớp CQ45/16.01 Luan van Chuyên đề thực tập 12 Học Viện Tài Chính thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần phải đến NH để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả hộ cho khách hàng, khách hàng mang giấy đến NH sẽ nhận được tiền. Các ưu điểm của loại thanh toán này (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí ) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho khách hàng.Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, bên cạnh các thể thức thanh toán như séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, L/C, đã phát triển các hình thức thanh toán mới bằng thẻ, điện … * Quản lý ngân quỹ. Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều NH cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó NH đồng ý quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tạm thêi vào các chứng khoán sinh lời và các tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán. Do khả năng thanh toán của NH cho một khách hàng là rất lớn và do NH nắm giữ một khối lượng lớn tiền gửi của khách hàng cho nên NH rất có uy tín trong việc bảo lãnh cho khách hàng.
Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác. Trong những năm gần đây nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và phát triển mạnh. * Cho thuê thiết bị trung hạn. Nhằm để bán được các thiết bị đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn, nhiều hãng sản xuất và thương mại đã cho thuê các thiết bị.
Cuối hợp đồng thuê, khách hàng có thể mua do vậy còn có thể gọi là hợp đồng thuê mua. Trong đó NH mua các thiết bị, máy móc rồi cho các khách hàng thuê với điều kiện khách phải trả tới hơn 70% hoặc 100% giá trị tài sản cho thuê. Do vậy, cho Ngô Quang Hòa Lớp CQ45/16.01 Luan van Chuyên đề thực tập 13 Học Viện Tài Chính thuê của NH cũng có nhiều điểm giống như cho vay và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn. * Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn.
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính NH nên các NH có rất nhiều chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.Vì vậy nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ NH quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ uỷ thác phát triển sang cả uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu tư … Nhiều khách hàng còn coi NH như một chuyên gia tư vấn tài chính. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, quản lý tài chính, về thành lập, mua bán, sát nhập doanh nghiệp. * Cung cấp dịch vụ môi giới chứng khoán.
Nhiều NH đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do khiến các NH bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác. Trong một vài trường hợp, các NH đứng ra tổ chức công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán để cung cấp dịch vụ môi giới. * Cung cấp dịch vụ bảo hiểm.
Từ nhiều năm nay, các NH đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó đảm bảo việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, tàn phế hay gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán. Ngân hàng còn liên doanh với công ty bảo hiểm hoặc tổ chức công ty bảo hiểm con, NH cung cấp dịch vụ tiết kiệm gắn liền với bảo hiểm như tiết kiệm an sinh, tiết kiệm hưu trí … * Cung cấp các dịch vụ đại lý. Nhiều NH trong quá trình hoạt động không thể thiết lập CN hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều NH cung cấp dịch vụ làm đại lý cho các NH Ngô Quang Hòa Lớp CQ45/16.01 Luan van Chuyên đề thực tập 14 Học Viện Tài Chính khác như thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm NH đầu mối trong đồng tài trợ … 1.
DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Khái niệm về dự án đầu tư. Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định. Dự án đầu tư được xem xét trên nhiều góc độ khác nhau: về bản chất, DAĐT là tập hợp những đề xuất về việc sử dụng vốn để mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng.
Về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định. Về hình thức trình bày, DAĐT là tài liệu do chủ đầu tư chịu trách nhiệm lập, trong đó có thể hiện một cách đầy đủ, khoa học và toàn diện toàn bộ nội dung, các vấn đề có liên quan đến công trình đầu tư, nhằm giúp cho việc ra quyết định đầu tư được đúng đắn và bảo đảm hiệu quả của vốn đầu tư. Tóm lại, DAĐT bao gồm 4 phần chính. - Mục tiêu của dự án - Các hoạt động - Các nguồn lực.
- Các kết quả Trong 4 thành phần trên thì kết quả chính là thành phần đánh dấu tiến độ của dự án. Kết quả có thể được biểu diễn dưới dạng kết quả tài chính, kết quả kinh tế và kết quả xã hội. Kết quả tài chính là các lợi ích về tài chính thu được Ngô Quang Hòa Lớp CQ45/16.01 Luan van Chuyên đề thực tập 15 Học Viện Tài Chính từ dự án biểu hiện bằng giá trị, tính theo giá thị trường. Kết quả kinh tế là lợi ích về kinh tế biểu hiện bằng giá trị, tính theo giá kinh tế.
Giá kinh tế là giá trị chi phí các nguồn lực hoặc các khoản thu nhập từ dự án xét trên góc độ chung của quốc gia. Kết quả xã hội là kết quả được biểu hiện dưới dạng các lợi ích xã hội (trình độ dân trí, khả năng phòng chống bệnh tật, bảo đảm môi trường…). Kết quả này biểu hiện rất phong phú và thường không thể đo lường một cách chính xác. Vai trò của dự án đầu tư.
DAĐT có vai trò hết sức quan trọng không chỉ đối với chủ đầu tư mà còn đối với Nhà nước và các bên liên quan : - Dự án là căn cứ quan trọng để quyết định việc bỏ vốn đầu tư. - Dự án là cơ sở để xây dựng kế hoạch đầu tư theo dõi, đôn đốc và kiểm tra quá trình thực hiện đầu tư. - Dự án là cơ sở quan trọng để thuyết phục các tổ chức tài chính, tín dụng cho vay vốn để tiến hành đầu tư. - Dự án là căn cứ quan trọng để đánh giá và có những điều chỉnh kịp thời những tồn tại và những vướng mắc trong quá trình thực hiện và khai thác công trình.
- Dự án là một trong những cơ sở pháp lý để xem xét, xử lý khi có tranh chấp giữa các bên tham gia liên doanh đầu tư. Riêng đối với chủ đầu tư, dự án còn là cơ sở để xin phép được đầu tư, xin phép nhập khẩu vật tư máy móc, xin hưởng các ưu đãi về đầu tư, xin gia nhập khu chế xuất, khu công nghiệp… * Yêu cầu cơ bản của dự án : Với vai trò quan trọng của mình, DAĐT phải đảm bảo những tính chất sau : Ngô Quang Hòa Lớp CQ45/16.01 Luan van Chuyên đề thực tập 16 Học Viện Tài Chính - Tính khoa học : Được thể hiện trên các mặt, thông tin, số liệu phải đảm bảo trung thực. Hình thức phải đảm bảo rõ ràng, sạch đẹp. Phương pháp lý giải phải đảm bảo tính logic và chặt chẽ giữa các nội dung đã nêu trong dự án.
Phương pháp tính toán phải đảm bảo độ chính xác. - Tính thực tiễn : Các nội dung của dự án phải được nghiên cứu và xác định trên cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động đầu tư. - Tính thống nhất : Được thể hiện từ những bước tiến hành đến nội dung hình thức, cách trình bày của dự án cần tuân thủ những quy định chung mang tính quốc tế. Nội dung của dự án đầu tư.
Một DAĐT thông thường bao gồm những nội dung chính sau : + Các căn cứ lập dự án, sự cần thiết phải đầu tư xây dựng dự án. Cần nêu căn cứ pháp lý và căn cứ thực tiễn của toàn bộ quá trình hình thành và thực hiện toàn bộ dự án. + Nghiên cứu về thị trường của dự án, cần đề cập đến các vấn đề : - Giới thiệu sản phẩm, dịch vụ được lựa chọn đưa vào sản xuất kinh doanh theo dự án. - Các luận cứ về thị trường đối với sản phẩm được chọn.
- Dự báo nhu cầu hiện tại, tương lai của sản phẩm dịch vụ đó. - Xác định nguồn và các kênh đáp ứng nhu cầu đó. - Xem xét, xây dựng mạng lưới để tổ chức tiêu thụ sản phẩm của các dự án. + Nghiên cứu về phương diện kỹ thuật – công nghệ của dự án theo các nội dung sau : - Xác định địa điểm xây dựng dự án Ngô Quang Hòa Lớp CQ45/16.01 Luan van Chuyên đề thực tập 17 Học Viện Tài Chính - Xác định quy mô chương trình sản xuất - Xác định nhu cầu các yếu tố đầu vào cho sản xuất, nguồn và phương thức cung cấp.
- Lựa chọn công nghệ và thiết bị. + Nghiên cứu về tổ chức quản trị dự án. Tuỳ theo từng dự án cụ thể để xác định mô hình tổ chức bộ máy cho thích hợp, từ đó làm cơ sở cho việc tính toán nhu cầu nhân lực. + Nghiên cứu về phương diện tài chính của dự án.
Cần giải quyết các nội dung chủ yếu sau đây : - Xác định tổng vốn đầu tư, cơ cấu các loại vốn và nguồn tài trợ. - Đánh giá khả năng sinh lời của dự án - Xác định khả năng hoàn vốn của dự án - Đánh giá mức độ rủi ro của dự án + Nghiên cứu mặt kinh tế – xã hội của dự án.