CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT BỐI CẢNH LỊCH SỬ CUỐI THẾ KỶ XVIII 1. Khủng hoảng xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII Từ những thế kỷ trước, do việc tranh giành quyền lợi giữa các tập đoàn phong kiến, đất nước đã tạm thời bị chia cắt làm hai, lấy sông Gianh làm ranh giới. Phía Bắc là Đàng Ngoài dưới sự cai trị của vua Lê - chúa Trịnh; phía Nam là Đàng Trong dưới sự cai trị của chúa Nguyễn. Ở Đàng Ngoài, vua Lê chỉ là bù nhìn, quyền hành tập trung trong tay chúa Trịnh.
Từ giữa thế kỷ XVIII, chính quyền họ Trịnh ngày càng trở nên thối nát, các chúa thi nhau ăn chơi, hưởng lạc, tiêu phí tiền của, công sức của nhân dân vào những công trình xây dựng, những cuộc du ngoạn tốn kém. Cảnh ăn chơi của chúa Trịnh được mô tả: “Mỗi tháng, ba bốn lần chúa ngự chơi cung Thúy Liên trên bờ hồ Tây, binh lính dàn hầu vòng quanh bốn mặt bờ hồ, các kẻ nội thần đều bịt khăn mặc áo đàn bà, dàn bày bách hóa chung quanh bờ hồ đề bán” [41, tr. Đời sống nhân dân, nhất là nông dân hết sức khốn khổ. Nạn phu phen, tạp dịch, thuế khóa nặng nề.
Khắp nơi đồng ruộng bỏ hoang, chợ búa tiêu điều, xơ xác. Tình cảnh xã hội hết sức thê thảm, nhà sử học Phan Huy Chú đã phê phán chính sách kinh tế của chúa Trịnh “Vì trưng thu quá mức, dân kiệt cả vật lực mà không thể nộp đủ đến nỗi thành ra bần cùng mà phải bỏ nghề nghiệp. Có người vì thuế sơn mà phải chặt cây sơn, có người vì thuế vải lụa mà phải phá khung cửi. Cũng có người phải nộp gỗ cây mà phải bỏ rìu búa, vì thu cá tôm mà phải xé lưới chài, vì phải nộp mật mía mà không dám trồng mía, vì phải nộp bông chè mà bỏ hoang vườn tược” [37, tr.
Bước sang thế kỷ XVIII, Đàng Trong đã không giữ được sự ổn định về chính trị, phát triển về kinh tế như thời kỳ trước. Chiến tranh kéo dài đã làm cho kinh tế Đàng Trong trở nên kiệt quệ, chính quyền Đàng Trong cũng bước vào thời kì suy thoái. Nạn chiếm đoạt ruộng đất của giai cấp địa chủ, tệ tham nhũng của quan lại, sự gia tăng thuế má, phu phen, tạp dịch… đã đẩy dân chúng vào tình trạng khốn quẫn, khiến xã hội càng phân hóa mạnh. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bọn quý tộc, quan lại Đàng Trong cũng đua nhau ăn chơi, hưởng lạc như nhận xét của Lê Quý Đôn: “Từ quan to đến quan nhỏ, nhà cửa chạm trổ, tường xây bằng gạch đá, trướng vóc màn the, đồ dùng toàn bằng đồng, bằng sứ, yên ngựa, dây cương đều nạm vàng nạm bạc, áo quần là lượt nệm hoa, chiếu mây, lấy phú quý, phong lưu để khoe khoang lẫn nhau… Họ coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, hoang phí vô cùng” [42, tr.
Bộ máy quan liêu họ Nguyễn ngày càng thêm nặng nề và trở thành công cụ bóc lột vơ vét làm giàu của bọn quan lại. Số lượng quan lại các cấp cũng tăng lên theo sự phát triển của nạn mua quan bán tước. Chế độ chính trị đó khiến cho sức sản xuất xã hội bị ngưng trệ, nhân dân càng thêm khổ cực, điêu linh. Như vậy, có thể thấy, từ giữa thế kỷ XVIII, các chính quyền phong kiến Việt Nam suy thoái, khủng hoảng trầm trọng: Kinh tế trì trệ, chính trị không ổn định, đời sống nhân dân cực khổ, mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt.
Trước tình hình đó, hàng loạt các cuộc khởi nghĩa đã nổ ra ở khắp cả nước. Ở Đàng Ngoài, có nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra. Vùng Hải Dương có cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển, Vũ Trác Oánh. Nam Định có cuộc khởi nghĩa của Tú Cao, Vũ Đình Dung, Đoàn Danh Trấn; Lạng Sơn có Toản Cơ… Không ít những cuộc khởi nghĩa kéo dài trên 10 năm như cuộc khởi nghĩa ở vùng Bắc Hà do Nguyễn Hữu Cầu chỉ huy, khởi nghĩa ở vùng Sơn Tây do Nguyễn Danh Phương lãnh đạo.
Cuộc khởi nghĩa của Hoàng Công Chất ở Tây Bắc đã duy trì được 30 năm (1739-1769), khởi nghĩa của Lê Duy Mật ở Thanh Hóa cũng tồn tại trên 30 năm (1738-1770). Phong trào nổi dậy của các tầng lớp nhân dân, nông dân, dân tộc thiểu số ở Đàng Trong cũng vô cùng sôi nổi. Cuộc nổi dậy của nông dân và thương nhân dưới sự lãnh đạo của Linh Vương và Quảng Phú ở Quảng Ngãi, Quy Nhơn năm 1695; cuộc nổi dậy do Lý Văn Quang, một thương nhân Hoa kiều lãnh đạo nổ ra ở Trấn Biên năm 1747. Cuộc đấu tranh của đồng bào thiểu số như đồng bào Chăm ở Trấn Biên (Gia Định) do Dương Bao Lai và Diệp Mã Lăng lãnh đạo năm 1746, cuộc nổi dậy của dân tộc Hrê ở Quảng Ngãi năm 1770.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đến nửa sau thế kỷ XVIII thủ lĩnh nông dân ở Quảng Ngãi là chàng Lía đã lãnh đạo nghĩa binh nổi dậy giết bọn địa chủ, cường hào với khẩu hiệu “Lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo” có lúc đánh bại cả quân của chúa Nguyễn. Cuộc khởi nghĩa của chàng Lía tuy bị dập tắt nhưng hình ảnh của “chàng Lía” và nghĩa quân vẫn in đậm trong lòng người dân Quảng Ngãi. Các cuộc khởi nghĩa diễn ra triền miên suốt thế kỷ XVIII cùng các cuộc chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến Việt Nam với các nước lân bang càng làm cho đất nước trở nên rối loạn phản ánh một tình trạng khủng hoảng toàn diện, trầm trọng của chế độ phong kiến ở cả hai miền và là những tín hiệu báo trước một cơn bão lớn của phong trào nông dân vùng lên đấu tranh rộng lớn trong phạm vi toàn quốc. Vài nét về phong trào Tây Sơn 1.
Tây Sơn dựng cờ khởi nghĩa, đánh đổ chế độ chúa Nguyễn ở Đàng Trong, chính quyền Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài Mùa xuân năm 1771, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ tập hợp quần chúng dựng cờ khởi nghĩa ở ấp Tây Sơn. Nắm được mâu thuẫn giữa các phe phái trong nội bộ giai cấp thống trị Đàng Trong, các lãnh tụ khởi nghĩa nêu lên khẩu hiệu “Đánh đổ quyền thần Trương Thúc Loan, ủng hộ hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương”. Với khẩu hiệu này cùng với uy tín của mình, các lãnh tụ khởi nghĩa ngay từ buổi đầu đã thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia, lôi kéo được những bộ phận tiến bộ trong giai cấp phong kiến bấy giờ. Với khẩu hiệu “Lấy của người giàu chia cho người nghèo”, nghĩa quân Tây Sơn có được sự ủng hộ rất lớn của dân chúng, không chỉ những người nông dân nghèo mà cả một số dân tộc thiểu số và lực lượng người Hoa như hai đạo quân của Lý Tài, Tập Đình.
Lực lượng Tây Sơn còn nổi tiếng vì thực hiện sự bình đẳng, bình quyền, không tham ô của dân. Sự bình đẳng tại những vùng nghĩa quân kiểm soát đã được thể hiện rất rõ thông qua những ghi chép của các giáo sĩ người Tây Ban Nha như Diego de Jumilla ghi lại: “Ban ngày họ xuống các chợ, kẻ đeo gươm, người mang cung tên, có người mang súng. Họ không hề làm thiệt hại đến người và của. Trái lại họ tỏ ra muốn bình đẳng giữa mọi người Đàng Trong; họ vào nhà giàu, nếu đem nộp họ ít nhiều thì họ không 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gây tổn hại, nhưng nếu chống cự lại thì họ cướp lấy những của quý đem chia cho người nghèo; họ chỉ giữ gạo và lương thực cho họ mà thôi.
Người ta gọi họ là bọn cướp đạo đức và nhân từ đối với quần chúng nghèo khổ. Với khẩu hiệu nhân nghĩa và hành động thực tiễn, các tầng lớp nhân dân thấy được sự ưu việt của nghĩa quân Tây Sơn do đó, nhân dân theo nghĩa quân Tây Sơn ngày càng đông, lực lượng của quân khởi nghĩa không ngừng lớn mạnh. Sau hai năm khởi nghĩa, căn cứ nghĩa quân mở rộng gần hết phủ Quy Nhơn gồm miền hạ đạo huyện Tuy Viễn, Bồng Sơn, Phù Ly. Mùa thu năm 1773, quân Tây Sơn chiếm được thành Quy Nhơn, từ đó phát triển ra các thành Phú Yên, Bình Thuận, Quảng Ngãi.
Cuối năm 1773, nghĩa quân đã làm chủ một vùng rộng lớn từ Quảng Nam đến Bình Thuận. Lợi dụng những biến động ở Đàng Trong, tháng 10-1774, chúa Trịnh sai tướng Hoàng Ngũ Phúc đem quân vượt sông Gianh tiến đánh quân Nguyễn. Quân Trịnh chiếm được Phú Xuân, chúa Nguyễn phải rút chạy vào Gia Định. Tháng 5- 1775, quân Trịnh tiến đánh quân Tây Sơn ở Phú Yên, Nguyễn Nhạc thua trận mất Phú Yên, chỉ còn giữ Quy Nhơn và Quảng Ngãi.
Quân Trịnh tiếp tục đi về phía Nam vượt đèo Hải Vân và đụng độ với quân Tây Sơn ở Quảng Nam. Quân Tây Sơn thua trận và đứng trước tình thế “Lưỡng đầu thọ địch”. Tính thế cấp bách buộc những người lãnh đạo Tây Sơn phải lựa chọn 3 sự lựa chọn: Một là hòa với chúa Nguyễn để đánh quân Trịnh ở phía Bắc, thứ hai là xin hòa với quân Trịnh để dồn lực đánh quân chúa Nguyễn, thứ ba là cùng một lúc chống cả quân Trịnh ở phía Bắc và quân Nguyễn ở phía Nam. Trước tình thế đó, Nguyễn Nhạc đã lựa chọn xin giảng hòa với quân Trịnh, trên danh nghĩa đầu hàng nhà Lê, xin làm tiên phong đi đánh chúa Nguyễn ở Gia Định.
Chúa Trịnh bằng lòng và phong chức cho Nguyễn Nhạc. Tháng 7-1775, Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Huệ đánh Phú Yên, quân Nguyễn tan vỡ, Tống Phúc Hiệp phải rút về Hòn Khói. Bùi Công Kế ở Bình Khang và Tống Văn Khôi từ Khánh Hòa đem quân ra chiếm lại Phú Yên đều bị đánh, Bùi Công Kế bị bắt sống trong khi đó Tống Văn Khôi tử trận. Trước những thắng lợi liên tiếp của quân Tây Sơn, tướng Hoàng Ngũ Phúc đành xin chúa Trịnh phong Nguyễn Nhạc là 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Tây Sơn Hiệu Trưởng tiên phong tướng quân”, rồi dâng biểu về triều, xin về Thuận Hóa, tuy nhiên Hoàng Ngũ Phúc đã lâm bệnh và mất trên đường về Thuận Hóa.
Toàn bộ khu vực đèo Hải Vân trở xuống đều thuộc về nghĩa quân Tây Sơn. Chúa Trịnh Sâm đồng ý cho Nguyễn Nhạc trấn thủ đất Quảng Nam. Từ năm 1776, quân Tây Sơn nhiều lần tiến vào Gia Định, khiến cho chúa Nguyễn phải bỏ đất liền vượt biển sang Xiêm cầu cứu. Như vậy, chế độ thống trị xây dựng trên hai trăm năm của tập đoàn phong kiến họ Nguyễn đến đây bị đánh đổ.
Phong trào Tây Sơn đã giành được thắng lợi có ý nghĩa quyết định: giải phóng hầu hết Đàng Trong, tiêu diệt lực lượng cát cứ của họ Nguyễn.