CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỶ XVIII ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX 1. Khái quát tình hình thế giới thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX Vào thế kỷ XVI - XVII, ở một số nước phương Tây, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa có những bước phát triển nhảy vọt. Chế độ phong kiến với quan hệ sản xuất lỗi thời đã trở thành trở lực đối với sự phát triển kinh tế hàng hóa. Giai cấp tư sản ngày một lớn mạnh và giữ vai trò lãnh đạo trong cuộc đấu tranh chống phong kiến.
Những cuộc cách mạng tư sản (CMTS) đã nổ ra ở Hà Lan (1566), Anh (1640), Bắc Mỹ (1775), Pháp (1789) đã từng bước xóa bỏ chế độ phong kiến, thiết lập hệ thống chính trị tư sản, mở đường cho sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa (TBCN) và lan tỏa ảnh hưởng đến nhiều quốc gia trên thế giới với những mức độ khác nhau. CMTS cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế TBCN, của nền sản xuất hàng hóa trong các thế kỷ XVI - XVIII kéo theo hàng loạt biến đổi về mặt xã hội. Đó là sự gia tăng dân số, sự hình thành các giai cấp mới trong xã hội, sự phát triển của đô thị, sự hình thành những trung tâm công nghiệp và thương nghiệp, đặc biệt là sự xuất hiện những nhu cầu mới về thị trường, nhân công, nhiên liệu và nguyên liệu. Chủ nghĩa tư bản Âu – Mỹ hình thành và lớn mạnh trong các thế kỷ XVI - XVIII gắn liền với những cuộc viễn du tìm kiếm thị trường.
Bang giao quốc tế được mở rộng mà trước hết là trên lĩnh vực kinh tế. Mặt khác, giao thương Đông – Tây đã trở thành một trong những hoạt động có vai trò quan trọng trên lộ trình xâm chiếm thuộc địa của các nước tư bản phương Tây trong buổi đầu thời cận đại. Bên cạnh đó, hoạt động truyền giáo của Giáo hội Thiên Chúa giáo được đẩy mạnh. Đây là bối cảnh quốc tế quan trọng tác động lớn đến nền thương mại thế giới và khu vực.
Sự phát triển của CNTB càng về sau càng gắn liền với quá trình thực dân hóa ở các châu lục chậm phát triển như châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latin. Đến cuối thế kỷ XIX, hầu như trên thế giới không còn vùng “đất trống”, nghĩa là không nơi nào không bị người phương Tây xâm lược và thống trị. Ở khu vực châu Á, cho đến thế kỷ XVII - XVIII, chế độ phong kiến còn tồn tại khá vững chắc. Những cơ sở kinh tế và xã hội của nó gần như còn giữ nguyên trạng.
Tuy 10 nhiên, chiến tranh phong kiến giữa các lực lượng cát cứ đối lập và giữa các quốc gia phong kiến lân bang trở thành phổ biến ở nhiều quốc gia châu Á. Sự bất ổn của tình hình chính trị trong khu vực này làm cho sức đề kháng của các quốc gia giảm sút, ảnh hưởng tiêu cực tăng gấp bội khi châu Á chịu sự tác động của tình hình chính trị thế giới. Châu Á thực sự phải đối diện với các nước phương Tây TBCN. Những biến đổi có tính chất cơ bản về đối tượng trong quan hệ đối ngoại một mặt tạo nên cơ hội để các nước phương Đông tiếp xúc giao lưu với văn minh phương Tây đang trên đường phát triển; mặt khác lại đặt ra những nguy cơ, thách thức lớn đối với nền độc lập của các nước phương Đông.
Tình hình này buộc các quốc gia phải có tính toán lại trong chính sách đối ngoại của mình. Vấn đề “đóng cửa” hay “mở cửa” thực sự trở thành bài toán không đơn giản đối với chính quyền các quốc gia phong kiến phương Đông. Khái quát tình hình Việt Nam thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX Trong khi ở phương Tây, CNTB không ngừng phát triển với xu thế hướng ngoại, thì ở nước ta, cuộc nội chiến kéo dài từ năm 1627 đến 1672 giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn đẩy đất nước vào tình trạng phân liệt Đàng Ngoài – Đàng Trong. Ở cả hai Đàng, chúa Trịnh và chúa Nguyễn đều ra sức củng cố thế lực, tìm kiếm cơ hội để tiêu diệt đối phương.
Cùng mục tiêu nên không hẹn mà gặp, cả hai đều “mở cửa”, đưa đất nước hội nhập vào luồng thương mại quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ giữa phương Đông và phương Tây (mà xu thế chủ đạo là sự xâm nhập của phương Tây TBCN vào phương Đông phong kiến). Do có vị thế đặc biệt, nên một cuộc giao thương diễn ra mạnh mẽ ở nước ta, cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài. Nông nghiệp, thủ công nghiệp phát triển đã làm nảy sinh nền kinh tế hàng hóa ở nước ta. Đây thực sự là điều kiện cơ bản cho công cuộc giao thương.
Một mạng lưới chợ búa hình thành khắp nơi trong cả nước, đặc biệt ở các thị tứ, thị trấn. Các trung tâm thương mại đã dần hình thành. Ngoài “nhất kinh kỳ, nhì Phố Hiến” ở Đàng Ngoài vốn đã hình thành từ sớm, nay có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn, ở Đàng Trong, với chủ trương đẩy mạnh thương nghiệp, các chúa Nguyễn đã tạo điều kiện cho sự ra đời các trung tâm thương mại: Thanh Hà, Hội An, Nước Mặn, Cù lao Phố, Hà Tiên, Mỹ Tho, Bãi Xàu, Bến Nghé,. 11 Sự phát triển kinh tế hàng hóa đã làm nảy sinh những tiền đề của chủ nghĩa tư bản vào các thế kỷ XVII, XVIII ở nước ta.
Tuy còn yếu ớt, chưa trở thành một bộ phận kinh tế độc lập, chưa có vai trò quan trọng trong xã hội và chưa đủ khả năng tạo ra quan hệ sản xuất mới làm tan rã phương thức sản xuất cũ, nhưng nó đã chứng tỏ xu thế phát triển tất yếu và khả năng tạo ra sự chuyển biến trong nội tại nền kinh tế nước ta vốn mang tính chất tiểu nông theo tinh thần “trọng nông ức thương” đã tồn tại lâu đời. Đến cuối thế kỷ XVIII, cả Đàng Ngoài lẫn Đàng Trong, cơ hội cho sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa cơ bản không còn thuận lợi như trước. Sang đầu thế XIX, xu thế phát triển của xã hội Việt Nam đang có những chuyển biến mới. Sau một thời gian loạn lạc kéo dài, vấn đề phục hồi nông nghiệp và phát triển công thương nghiệp trở nên bức xúc hơn bao giờ hết.
Song, thực tế các vua nhà Nguyễn, ngay cả những ông vua đầu triều cũng không thể đáp ứng được yêu cầu của lịch sử đặt ra. Theo tư liệu của những người nước ngoài có mặt ở nước ta hồi nửa đầu thế kỷ XIX, thì tình hình kinh tế nói chung, công thương nghiệp nói riêng, đặc biệt hoạt động ngoại thương ở nước ta hồi nửa đầu thế kỷ XIX không đáp ứng được yêu cầu và xu thế thời đại, thậm chí suy yếu, tàn tạ hơn các thế kỷ trước. Bức tranh ảm đạm đó tồn tại mãi cho đến khi thực dân Pháp xâm lược nước ta vào giữa thế kỷ XIX. Nhà Nguyễn độc quyền về ngoại thương.
Cùng với chính sách “đóng cửa” về kinh tế, nhà Nguyễn còn thi hành chính sách cấm đạo Thiên Chúa một cách cực đoan nhằm ngăn chặn âm mưu của các nước phương Tây dùng Thiên Chúa giáo để can thiệp vào nội tình của Việt Nam, nhất là Pháp. Có thể nói, các vị vua đầu triều Nguyễn đã có những đóng góp to lớn đối với đất nước về các mặt kinh tế và văn hóa. Song do không có đường lối đối ngoại phù hợp với xu thế của thời đại, lại lúng túng trong việc “trả món nợ” phương Tây, khiến cho từ Minh Mạng đến Tự Đức không tìm ra được lối thoát, hầu đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng. Chính sách “bế môn tỏa cảng”, cấm đạo, sát đạo đã tạo thêm cơ hội cho thực dân Pháp tiến hành xâm lược và thôn tính nước ta vào cuối thế kỷ XIX.
Tình hình bang giao quốc tế và cuộc tiếp xúc Đông – Tây Sự phát triển của kinh tế công thương nghiệp châu Âu thời kỳ này làm nảy sinh nhu cầu tìm kiếm thị trường ngoài châu lục. Châu Á được coi là một thị trường béo bỡ có sức hấp 12 dẫn lớn đối với CNTB phương Tây. Con đường hàng hải từ châu Âu theo Đại Tây Dương qua bờ biển châu Phi lại được nối liền với Ấn Độ Dương, mở đường cho sự bành trướng của CNTB phương Tây sang phương Đông. Cùng với Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Hà Lan, Anh, Pháp cũng tìm cách đến giao thương với nhiều nước châu Á, châu Phi.
Để cạnh tranh, công ty Đông Ấn Anh, công ty Đông Ấn Hà Lan, công ty Đông Ấn Pháp được thành lập,. Các nước Tây Âu thực sự tổ chức cuộc chạy đua kiếm lợi nhuận từ hàng hóa của các nước phương Đông. Thương mại khu vực châu Á phát triển sôi động hẳn lên. Ngoài việc buôn bán với các nước láng giềng truyền thống, vào thế kỷ XVII - XVIII, do chịu ảnh hưởng của luồng thương mại quốc tế, hầu hết các quốc gia Đông Nam Á và cả châu Á đều tiếp xúc và buôn bán với các nước phương Tây ở những mức độ khác nhau.
Tình hình bang giao châu Á có những thay đổi bởi những chính sách đối ngoại của các nhà nước phong kiến. Ngoài hoạt động thương mại, trong bang giao quốc tế và khu vực thời kỳ này còn có những hoạt động truyền giáo của Giáo hội Thiên Chúa giáo tại nhiều nước châu Á nhằm gây thế lực thần quyền cũng như thế quyền ở những vùng đất mới. Khoảng năm 1635, Giáo hội Đàng Trong của nước Đại Việt được thành lập. Xúc tiến thương mại Đông – Tây, phát triển giao thương giữa các nước trong khu vực, đẩy mạnh hoạt động truyền giáo là những nét nổi bật của tình hình bang giao quốc tế và khu vực châu Á thế kỷ XVII - XIX.
Sang thế kỷ XIX, khi CNTB phương Tây phát triển mạnh trên phạm vi toàn thế giới và vùng Viễn Đông nói riêng, nhằm mở rộng thị trường và tìm nguồn khai thác nguyên liệu với sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các nước TBCN, thì chiến lược giao thương đã từng bước được thay bằng chiến lược tiến công xâm lược. 13 CHƯƠNG 2: NHỮNG YÊU CẦU LỊCH SỬ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM VÀ THÁI ĐỘ CHÍNH TRỊ CỦA SĨ PHU GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỶ XVIII ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX 2. Những yêu cầu lịch sử đặt ra đối với Việt Nam 2.