Tìm hiểu thái độ chính trị của sĩ phu Việt Nam TK XVIII-XIX (Euréka 2010)

Chuyên khảo phân tích Tìm hiểu thái độ chính trị của sĩ phu việt nam thế kỷ xviii nửa đầu thế kỷ xix công trình dự thi, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu

2010

60
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

TÓM TẮT NỘI DUNG CÔNG TRÌNH

1. CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỶ XVIII ĐẾN

1.1. Khái quát tình hình thế giới thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX

1.2. Khái quát tình hình Việt Nam thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX

1.3. Tình hình bang giao quốc tế và cuộc tiếp xúc Đông – Tây

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG YÊU CẦU LỊCH SỬ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM VÀ THÁI ĐỘ CHÍNH TRỊ CỦA SĨ PHU GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỶ XVIII ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX

2.1. Những yêu cầu lịch sử đặt ra đối với Việt Nam

2.2. Thái độ của nhà nước Việt Nam trước những vấn đề đặt ra của đất nước

2.3. Thái độ của sĩ phu Việt Nam trước những vấn đề đặt ra của đất nước

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ VỀ THÁI ĐỘ CỦA SĨ PHU VIỆT NAM

3.1. Sĩ phu Việt Nam trước những vấn đề lịch sử mang tính thời đại

3.2. Những đóng góp của sĩ phu Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX

3.3. Những hạn chế của sĩ phu trong giai đoạn lịch sử từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Thái Độ Chính Trị Sĩ Phu Việt Nam XVIII XIX

Bước vào thế kỷ XVIII, tình hình thế giới và Việt Nam có những biến đổi sâu sắc. Các nước Âu Mỹ đã diễn ra các cuộc cách mạng Tư sản, chủ nghĩa tư bản hình thành và từng bước xác lập trên phạm vi thế giới. Sự hình thành của chủ nghĩa tư bản làm cho nền kinh tế, chính trị, xã hội của các nước Âu Mỹ có những chuyển biến to lớn. Sự giao lưu về kinh tế và văn hóa trên thế giới phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là luồng giao lưu của các nước tư bản phương Tây sang các nước phương Đông, làm cho cuộc tiếp xúc Đông – Tây diễn ra ngày một sôi động. Cũng từ đây, chủ nghĩa thực dân hình thành và đe dọa đến nền độc lập của nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các nước chậm tiến ở phương Đông. Trong khi đó, Việt Nam và các nước phương phương Đông nói chung vẫn còn giữ khá nguyên trạng các thiết chế của chế độ phong kiến nhưng đã có những mâu thuẫn gay gắt. Sau một thời gian Việt Nam và các nước Á Đông tham gia mạnh mẽ vào cuộc giao lưu kinh tế và văn hóa, sôi động nhất là thế kỷ XVII, thì bước sang thế kỷ XVIII, XIX, những hoạt động đó có dấu hiệu chững lại, làm ngăn trở rất nhiều đến sự phát triển của các nước. Nước Việt Nam vào thế kỷ XVIII bị xoáy vào các cuộc “chiến tranh nông dân” làm đất nước tiêu điều, xơ xác. Triều Nguyễn thành lập, hoàn thành thống nhất đất nước nhưng những mâu thuẩn cơ bản của chế độ phong kiến vẫn chưa được giải quyết. Trong khoảng thời gian đó, rất nhiều vấn đề được đặt ra và cần được giải quyết để đưa đất nước vượt ra khủng hoảng và phát triển. Đó là: yêu cầu của cuộc ổn định và phát triển nền kinh tế trên tất cả các lĩnh vực: nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp; yêu cầu của sự mở cửa hội nhập về kinh tế và văn hóa trong điều kiện của một thế giới “mở” và cuộc giao tiếp Đông – Tây diễn ra mạnh mẽ; yêu cầu của công cuộc thống nhất đất nước sau hơn hai thế kỷ bị chia cắt để từ đó xây dựng và bảo vệ chủ quyền quốc gia trước nguy cơ đe dọa của chủ nghĩa thực dân; yêu cầu của cuộc giải phóng về tư tưởng để phá vỡ thế độc tôn của Nho giáo đang ngày càng lạc hậu; yêu cầu của việc xây dựng một nền giáo dục mới để đào tạo con người, làm động lực cho sự phát triển,…

1.1. Bối Cảnh Thế Giới Ảnh Hưởng Sĩ Phu Việt Nam

Vào thế kỷ XVI - XVII, ở một số nước phương Tây, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa có những bước phát triển nhảy vọt. Chế độ phong kiến với quan hệ sản xuất lỗi thời đã trở thành trở lực đối với sự phát triển kinh tế hàng hóa. Giai cấp tư sản ngày một lớn mạnh và giữ vai trò lãnh đạo trong cuộc đấu tranh chống phong kiến. Những cuộc cách mạng tư sản (CMTS) đã nổ ra ở Hà Lan (1566), Anh (1640), Bắc Mỹ (1775), Pháp (1789) đã từng bước xóa bỏ chế độ phong kiến, thiết lập hệ thống chính trị tư sản, mở đường cho sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa (TBCN) và lan tỏa ảnh hưởng đến nhiều quốc gia trên thế giới với những mức độ khác nhau.CMTS cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế TBCN, của nền sản xuất hàng hóa trong các thế kỷ XVI - XVIII kéo theo hàng loạt biến đổi về mặt xã hội. Đó là sự gia tăng dân số, sự hình thành các giai cấp mới trong xã hội, sự phát triển của đô thị, sự hình thành những trung tâm công nghiệp và thương nghiệp, đặc biệt là sự xuất hiện những nhu cầu mới về thị trường, nhân công, nhiên liệu và nguyên liệu. Châu Á thực sự phải đối diện với các nước phương Tây TBCN. Những biến đổi có tính chất cơ bản về đối tượng trong quan hệ đối ngoại một mặt tạo nên cơ hội để các nước phương Đông tiếp xúc giao lưu với văn minh phương Tây đang trên đường phát triển; mặt khác lại đặt ra những nguy cơ, thách thức lớn đối với nền độc lập của các nước phương Đông. Tình hình này buộc các quốc gia phải có tính toán lại trong chính sách đối ngoại của mình. Vấn đề “đóng cửa” hay “mở cửa” thực sự trở thành bài toán không đơn giản đối với chính quyền các quốc gia phong kiến phương Đông.

1.2. Tình Hình Việt Nam XVIII XIX Khủng Hoảng Thách Thức

Trong khi ở phương Tây, CNTB không ngừng phát triển với xu thế hướng ngoại, thì ở nước ta, cuộc nội chiến kéo dài từ năm 1627 đến 1672 giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn đẩy đất nước vào tình trạng phân liệt Đàng Ngoài – Đàng Trong. Ở cả hai Đàng, chúa Trịnh và chúa Nguyễn đều ra sức củng cố thế lực, tìm kiếm cơ hội để tiêu diệt đối phương. Cùng mục tiêu nên không hẹn mà gặp, cả hai đều “mở cửa”, đưa đất nước hội nhập vào luồng thương mại quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ giữa phương Đông và phương Tây. Nông nghiệp, thủ công nghiệp phát triển đã làm nảy sinh nền kinh tế hàng hóa ở nước ta. Đây thực sự là điều kiện cơ bản cho công cuộc giao thương. Tuy còn yếu ớt, chưa trở thành một bộ phận kinh tế độc lập, chưa có vai trò quan trọng trong xã hội và chưa đủ khả năng tạo ra quan hệ sản xuất mới làm tan rã phương thức sản xuất cũ, nhưng nó đã chứng tỏ xu thế phát triển tất yếu và khả năng tạo ra sự chuyển biến trong nội tại nền kinh tế nước ta vốn mang tính chất tiểu nông theo tinh thần “trọng nông ức thương” đã tồn tại lâu đời. Theo tư liệu của những người nước ngoài có mặt ở nước ta hồi nửa đầu thế kỷ XIX, thì tình hình kinh tế nói chung, công thương nghiệp nói riêng, đặc biệt hoạt động ngoại thương ở nước ta hồi nửa đầu thế kỷ XIX không đáp ứng được yêu cầu và xu thế thời đại, thậm chí suy yếu, tàn tạ hơn các thế kỷ trước.

II. Thách Thức Lịch Sử Sĩ Phu Việt Nam Nên Giải Quyết

Sau một thời gian các ngành thủ công nghiệp phát triển mạnh mẽ và mở rộng giao lưu buôn bán với các quốc gia khác, đến khoảng cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, Việt Nam đã xuất hiện những yếu tố mới tạo tiền đề cho sự xuất hiện TBCN. Nhưng những yếu tố này còn quá yếu ớt và không tạo ra được những chuyển biến rõ nét mang tính bước ngoặt của lực lượng sản xuất. Về cơ bản, Việt Nam vẫn là một quốc gia nông nghiệp tiểu nông lạc hậu còn khép kín, tự cung tự cấp. Bước sang thế kỷ XVIII, tình hình khủng hoảng của chế độ phong kiến ở hai Đàng của Việt Nam diễn ra ngày một trầm trọng. Bộ máy quan liêu mục nát, nạn chiếm đoạt ruộng đất diễn ra ngày một rộng lớn, nền nông nghiệp bị đình trệ, công thương nghiệp sa sút, người dân đói khổ, lưu tán. Vì vậy, việc phục hồi nền kinh tế đất nước là một yêu cầu cấp thiết đối với triều đình nhà Nguyễn. Song, thực tế các vua nhà Nguyễn, ngay cả những ông vua đầu triều cũng không thể đáp ứng được yêu cầu của lịch sử đặt ra.

2.1. Ổn Định Nông Nghiệp Phát Triển Công Thương Nghiệp

Cho đến thế kỷ XIX, nông nghiệp vẫn là một ngành kinh tế chủ đạo trong cơ cấu kinh tế Việt Nam với nguyên tắc là “nông gia thiên hạ chi đại bản”. Sau hàng chục năm đất nước trong cảnh chiến tranh, tình trạng chiếm đoạt và tập trung ruộng đất của địa chủ, cường hào lại diễn ra như những năm trước khi bùng nổ phong trào Tây Sơn. Hiện tượng dân lưu tán cũng diễn ra khá mạnh mẽ. Công thương nghiệp đã từng phát triển mạnh mẽ ở thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, nhưng từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, công thương nghiệp trở nên sa sút. Trước những vấn đề trên, ngoài việc giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân để ổn định tình hình nông nghiệp, một yêu cầu cấp thiết đối với triều Nguyễn là phải phục hồi và phát triển các ngành công thương nghiệp.

2.2. Mở Cửa Hội Nhập Kinh Tế Văn Hóa Với Thế Giới

Trong các thế kỷ XVI, XVII, XVIII, cuộc giao lưu tiếp biến Đông Tây của Việt Nam diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt là ở thế kỷ XVII. Các chính quyền ở Việt Nam, cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài đã chủ động mở cửa và tham gia vào quá trình tiếp xúc Đông – Tây một cách tích cực. Trong khoảng thời gian đó, ngoại thương Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc. Bên cạnh những mối giao thương truyền thống với các nước láng giềng gần gũi, đã xuất hiện những đối tác là đại biểu của các thế lực tư bản phương Tây. Sự mở rộng quan hệ ngoại thương đã tạo ra những yếu tố kích thích mạnh mẽ cho sự phát triển của kinh tế trong nước.

III. Thái Độ Của Nhà Nước Việt Nam Về Các Vấn Đề

Những yêu cầu lịch sử đặt ra cho dân tộc Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX vô cùng bức thiết. Các chính quyền Lê - Trịnh, chúa Nguyễn, Tây Sơn và triều Nguyễn đều có những cách tiếp cận và giải quyết riêng. Mỗi triều đại, mỗi nhà cầm quyền đều có những đóng góp và hạn chế nhất định. Tuy nhiên, nhìn chung, những mâu thuẫn cơ bản của xã hội phong kiến Việt Nam vẫn chưa được giải quyết triệt để và những yêu cầu của lịch sử dân tộc chưa được đáp ứng thỏa đáng. Các chính quyền ở Việt Nam nói chung chưa nhận ra được tầm quan trọng của cuộc tiếp biến với các yếu tố mới từ phương Tây để giải quyết tình trạng khủng hoảng của đất nước mà chỉ loay hoay chỉnh sửa trên cơ sở của mô hình cũ.

3.1. Chính Quyền Lê Trịnh Bảo Thủ Hạn Chế Ngoại Thương

Vào cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, tình trạng kiêm tính ruộng đất đã diễn ra khá mạnh mẽ, quá trình tư hữu hóa ruộng đất đã trở thành một xu thế của lịch sử, ruộng đất công ngày càng bị thu hẹp, cuộc sống người dân thêm khốn khó. Chính sách thuế khóa nặng nề với việc duy trì nhiều hình thức thuế lạc hậu càng gây thêm những khốn khổ cho nhân dân. Trước sự phản ứng mạnh mẽ của nhân dân, chính quyền Lê – Trịnh cũng có một số chính sách mang tính tích cực như đặt quan khuyến nông, quy định rõ việc phục hóa, miễn giảm thuế khóa. Sự hưng khởi của ngoại thương ở thế kỷ XVII không còn được duy trì trong thế kỷ XVIII. Các thủ tục thương mại và chính sách thuế khóa càng trở nên rườm rà và phức tạp. Về mặt chính trị, sự mục nát của bộ máy quan liêu và biến chất của bộ máy quan lại là một hiện tượng không thể nào cứu chữa được.

3.2. Chính Quyền Chúa Nguyễn Mở Mang Bờ Cõi Nhưng Lúng Túng

Một vấn đề nổi bật có tính xuyên suốt của chính quyền các chúa Nguyễn là quá trình khai phá tiến tới xác lập và khẳng định chủ quyền ở Đàng Trong. Đây là một công lao to lớn không thể phủ nhận của nhiều thế hệ chúa Nguyễn đối với dân tộc. Tuy nhiên, vào thế kỷ XVIII, Đàng Trong cũng gặp phải những bước khủng hoảng. Chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất là một đặc trưng của xứ Đàng Trong, đặc biệt là vùng Nam bộ. Chế độ tư hữu và nạn kiêm tính ruộng đất đã đẩy những người nông dân vào cảnh cơ cực. Vào thế kỷ XVIII, tình hình thương mại quốc tế và khu vực ở Đàng Trong có những sa sút đáng kể. Hoạt động thương mại trong thời kỳ này có bước phát triển thụt lùi so với thế kỷ trước do những điều kiện khác nhau. Những điều trên cho thấy sự hạn chế trong nhận thức và thái độ không nhất quán của các chúa Nguyễn đối với Thiên Chúa giáo.

3.3. Vương Triều Tây Sơn Nỗ Lực Thống Nhất Canh Tân

Chính quyền Tây Sơn là hệ thống quyền lực nhà nước được dựng nên sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Cuộc khởi nghĩa đã đập tan hai tập đoàn phong kiến cát cứ chia cắt đất nước là chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong và chính quyền Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài. Từ những thắng lợi to lớn đó, nó đã tạo ra những tiền đề rất cơ bản cho công cuộc thống nhất đất nước. Đặc biệt phong trào đã hoàn thành vẻ vang công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc. Sau khi khởi nghĩa thắng lợi, những thủ lĩnh Tây Sơn bắt đầu tiến hành xây dựng vương triều mới. Vương triều Quang Trung còn mở rộng quan hệ ngoại giao với các quốc gia láng giềng và các nước xung quanh, trong đó đặc biệt quan hệ với Trung Quốc.

3.4. Vương Triều Nguyễn Bảo Thủ Bế Quan Tỏa Cảng

Triều Nguyễn được thành lập từ năm 1802 bằng sự thắng lợi của Nguyễn Ánh trước vương triều Tây Sơn đang bị khủng hoảng và chia rẽ sâu sắc. Thời này, nạn kiêm tính ruộng đất diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Để giải quyết vấn đề ruộng đất cho nhân dân, các vua Nguyễn rất quan tâm đến việc khai khẩn đất hoang, xem đây là một chính sách lớn của nhà nước và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Trên lĩnh vực thương nghiệp, triều đình thực hiện chính sách “ức thương”, một chủ trương nhất quán của nhà Nguyễn. Rõ ràng các vua Nguyễn chỉ chú trọng phát triển nông nghiệp mà họ cho là “gốc” mà bỏ quên và hạn chế phát triển thương nghiệp, cái mà họ cho là “việc ngọn”. Các ông vua nhà Nguyễn không thấy rằng thời thế đã thay đổi, cuộc tiếp xúc Đông – Tây đã diễn ra rất mạnh mẽ, thời cuộc nay đã khác trước, thương nghiệp cần phải được đầu tư để làm phương tiện trọng yếu cho cuộc hội nhập với thế giới.

IV. Sĩ Phu Việt Nam Thái Độ Hành Động Trước Biến Động

Đến thế kỷ XVIII, thuyết chính danh và trật tự cương thường ngày càng bị phá hoại nghiêm trọng. Mô hình thiết chế chính trị quân chủ tập quyền cũ và hệ tư tưởng Nho giáo chính thống bị đem ra thử thách và chao đảo trước thực tế sinh động và khắc nghiệt của cuộc sống với nhiều chuyển biến mới, nhưng vẫn không bị giải thể. Xã hội xuất hiện những tình cảnh “quý chúa không bằng quý thân”. Tình hình giáo dục và khoa cử Nho học đã mục nát. Chính quyền Lê – Trịnh không những không có cách gì giải quyết mà còn làm cho cuộc khủng hoảng thêm trầm trọng hơn.

4.1. Sĩ Phu Bắc Hà Chấn Hưng Nho Giáo Phản Kháng

Những vị sĩ phu chân chính lúc này tập trung sự quan tâm vào việc “chấn hưng” học thuyết của mình, hình thành khuynh hướng thực học. Các nhà kinh học trên không có nhiều ý kiến khác với Trình Chu. Họ chỉ làm công việc tuyển chọn theo cách đơn giản hóa các kinh điển Nho giáo. Trong các “nhà thực học” thế kỷ XVIII thì Lê Quý Đôn nổi bật hơn cả. Một trong những khuynh hướng để “chấn hưng” Nho giáo trong thế kỷ này nữa là việc hội nhập tam giáo do các nhà Nho tiến hành. Trước những yêu cầu đặt ra của đất nước, có một lực lượng sĩ phu thể hiện một thái độ khá tích cực, cố gắng cống hiến những kế sách để cải thiện tình hình đất nước. Những sĩ phu Việt Nam thể hiện mạnh mẽ sự chống đối của mình. Trong đó, người nho sĩ Nguyễn Hữu Cầu thực sự là một “con chim dám phá lồng”, dám vượt qua quan niệm trung quân chật hẹp của nho giáo chính thống.

4.2. Sĩ Phu Nam Hà Thực Tiễn Phò Tá Chúa Nguyễn

Đến đầu thế kỷ XVIII, ở Nam Hà (Đàng Trong), số lượng sĩ phu rất thưa thớt và ảnh hưởng của Nho giáo rất mờ nhạt trong đời sống chính trị xã hội ở đây. Trong suốt gần 200 năm mở mang đất đai và xây dựng chính quyền, các chúa Nguyễn chưa thực sự mở được một khoa thi Hội, thi Đình nào chính quy, việc tổ chức giáo dục và khoa cử cũng không có quy củ. Trong điều kiện như vậy, lực lượng sĩ phu ở đây xuất hiện rất muộn màng và yếu ớt, ngoại trừ khu vực Hà Tiên mà hoạt động giao lưu kinh tế, văn hóa khá phát triển. Các sĩ phu Nam Hà đã chứng minh được sự trung thành với tinh thần chính thống của trí thức Nho giáo bên cạnh khả năng vận dụng sáng tạo nó trong hoạt động thực tiễn chính trị – xã hội của mình.

4.3. Sĩ Phu Dưới Triều Nguyễn Khoa Cử Bảo Thủ

Dưới triều Nguyễn, Nho giáo được phục hồi, giáo dục và khoa cử theo nội dung và phương pháp của Nho giáo được triều đình đề cao. Nho giáo được đề cao, tất nhiên những người đại diện cho nó, các Nho sĩ cũng được triều đình coi trọng. Sự phục hồi Nho giáo và giáo dục Nho học cũng là niềm mong mỏi của các nhà nho. Nhưng đó là cái học chủ yếu dưới triều Nguyễn mà các sĩ phu tiếp nhận được. Với sự hạn hẹp của hệ tư tưởng Nho giáo trong một thế giới mở rộng hơn rất nhiều, những nhà nho vẫn cứ khư khư cho rằng chỉ cần tinh thông Nho học là có thể giải thích được mọi hiện tượng trên thế giới, ngoài ra họ không cần phải học gì thêm. Nhìn chung lại, các sĩ phu dưới triều Nguyễn có thái độ bảo thủ nặng nề trước một trào lưu to lớn của thời cuộc, trào lưu của các cuộc tiếp xúc Đông – Tây.

V. Đánh Giá Bài Học Về Thái Độ Sĩ Phu Thời Nay

Thái độ chính trị của sĩ phu Việt Nam giai đoạn XVIII-XIX là một chủ đề phức tạp và đa chiều. Các sĩ phu thời kỳ này có nhiều thái độ khác nhau, từ bảo thủ đến tiến bộ, từ trung thành đến phản kháng. Họ đóng góp cho văn hóa dân tộc nhưng cũng có những hạn chế do tư tưởng Nho giáo và bối cảnh lịch sử. Nghiên cứu thái độ của họ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử Việt Nam và rút ra những bài học cho hiện tại. Bài học về việc cần có tư duy mở, sẵn sàng học hỏi, và hành động vì lợi ích của dân tộc là vô cùng quan trọng.

5.1. Những Đóng Góp Văn Hóa To Lớn Của Sĩ Phu

Sĩ phu là những người có học thức cao trong xã hội, những kiến thức của họ cũng có đóng góp to lớn trong việc xây dựng nền văn hóa dân tộc, nhất là văn hóa bác học. Những trước tác của các sĩ phu là những thành tựu văn hóa đặc sắc tô điểm cho nền văn hóa truyền thống Việt Nam thêm rực rỡ. Trong thời đoạn lịch sử nước nhà với những cuộc chiến tranh, loạn lạc, xã hội ngày càng đi vào tình trạng khủng hoảng, nhưng những sĩ phu Việt Nam cũng đã sáng tác rất nhiều và để lại những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực: lịch sử, văn học, y học,. bằng cả chữ Hán lẫn chữ Nôm. Hàng loạt các tác phẩm và tác giả lớn của đất nước ở thời kỳ này có thể kể đến Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Dữ, Lê Hữu Trác, Nguyễn Gia Thiều, Ngô Thì Nhậm, Phạm Đình Hổ,… Trong số những nhà văn hóa đó, Lê Quý Đôn nổi bật lên với số lượng trước tác phong phú và tài hiểu biết của ông trên nhiều lĩnh vực, ông xứng đáng là một nhà bác học Việt Nam thời phong kiến.

5.2. Hạn Chế Về Tư Tưởng Khả Năng Tiếp Thu

Các sĩ phu dưới triều Nguyễn có thái độ bảo thủ nặng nề trước một trào lưu to lớn của thời cuộc, trào lưu của các cuộc tiếp xúc Đông – Tây. Trên tinh thần Nho giáo thì xuất hiện những nhân vật xuất sắc, nhưng họ không mở ra vấn đề để nhận thức những kiến thức mới trao cho bản thân và phục vụ xã hội mà giam mình trong học thuyết Nho giáo đang ngày càng lạc hậu trước thời cuộc. Chính lúc Nho giáo được đề cao và bảo vệ hơn hết thì cũng là lúc nguy cơ của sự “Hán hóa” xã hội Việt Nam nhiều hơn hết mà người gieo mầm mống đó không ai khác mà chính là các sĩ phu Nho học.

22/09/2025
Tìm hiểu thái độ chính trị của sĩ phu việt nam thế kỷ xviii nửa đầu thế kỷ xix công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần thứ 12 năm 2010

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỶ XVIII ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX 1. Khái quát tình hình thế giới thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX Vào thế kỷ XVI - XVII, ở một số nước phương Tây, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa có những bước phát triển nhảy vọt. Chế độ phong kiến với quan hệ sản xuất lỗi thời đã trở thành trở lực đối với sự phát triển kinh tế hàng hóa. Giai cấp tư sản ngày một lớn mạnh và giữ vai trò lãnh đạo trong cuộc đấu tranh chống phong kiến.

Những cuộc cách mạng tư sản (CMTS) đã nổ ra ở Hà Lan (1566), Anh (1640), Bắc Mỹ (1775), Pháp (1789) đã từng bước xóa bỏ chế độ phong kiến, thiết lập hệ thống chính trị tư sản, mở đường cho sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa (TBCN) và lan tỏa ảnh hưởng đến nhiều quốc gia trên thế giới với những mức độ khác nhau. CMTS cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế TBCN, của nền sản xuất hàng hóa trong các thế kỷ XVI - XVIII kéo theo hàng loạt biến đổi về mặt xã hội. Đó là sự gia tăng dân số, sự hình thành các giai cấp mới trong xã hội, sự phát triển của đô thị, sự hình thành những trung tâm công nghiệp và thương nghiệp, đặc biệt là sự xuất hiện những nhu cầu mới về thị trường, nhân công, nhiên liệu và nguyên liệu. Chủ nghĩa tư bản Âu – Mỹ hình thành và lớn mạnh trong các thế kỷ XVI - XVIII gắn liền với những cuộc viễn du tìm kiếm thị trường.

Bang giao quốc tế được mở rộng mà trước hết là trên lĩnh vực kinh tế. Mặt khác, giao thương Đông – Tây đã trở thành một trong những hoạt động có vai trò quan trọng trên lộ trình xâm chiếm thuộc địa của các nước tư bản phương Tây trong buổi đầu thời cận đại. Bên cạnh đó, hoạt động truyền giáo của Giáo hội Thiên Chúa giáo được đẩy mạnh. Đây là bối cảnh quốc tế quan trọng tác động lớn đến nền thương mại thế giới và khu vực.

Sự phát triển của CNTB càng về sau càng gắn liền với quá trình thực dân hóa ở các châu lục chậm phát triển như châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latin. Đến cuối thế kỷ XIX, hầu như trên thế giới không còn vùng “đất trống”, nghĩa là không nơi nào không bị người phương Tây xâm lược và thống trị. Ở khu vực châu Á, cho đến thế kỷ XVII - XVIII, chế độ phong kiến còn tồn tại khá vững chắc. Những cơ sở kinh tế và xã hội của nó gần như còn giữ nguyên trạng.

Tuy 10 nhiên, chiến tranh phong kiến giữa các lực lượng cát cứ đối lập và giữa các quốc gia phong kiến lân bang trở thành phổ biến ở nhiều quốc gia châu Á. Sự bất ổn của tình hình chính trị trong khu vực này làm cho sức đề kháng của các quốc gia giảm sút, ảnh hưởng tiêu cực tăng gấp bội khi châu Á chịu sự tác động của tình hình chính trị thế giới. Châu Á thực sự phải đối diện với các nước phương Tây TBCN. Những biến đổi có tính chất cơ bản về đối tượng trong quan hệ đối ngoại một mặt tạo nên cơ hội để các nước phương Đông tiếp xúc giao lưu với văn minh phương Tây đang trên đường phát triển; mặt khác lại đặt ra những nguy cơ, thách thức lớn đối với nền độc lập của các nước phương Đông.

Tình hình này buộc các quốc gia phải có tính toán lại trong chính sách đối ngoại của mình. Vấn đề “đóng cửa” hay “mở cửa” thực sự trở thành bài toán không đơn giản đối với chính quyền các quốc gia phong kiến phương Đông. Khái quát tình hình Việt Nam thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX Trong khi ở phương Tây, CNTB không ngừng phát triển với xu thế hướng ngoại, thì ở nước ta, cuộc nội chiến kéo dài từ năm 1627 đến 1672 giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn đẩy đất nước vào tình trạng phân liệt Đàng Ngoài – Đàng Trong. Ở cả hai Đàng, chúa Trịnh và chúa Nguyễn đều ra sức củng cố thế lực, tìm kiếm cơ hội để tiêu diệt đối phương.

Cùng mục tiêu nên không hẹn mà gặp, cả hai đều “mở cửa”, đưa đất nước hội nhập vào luồng thương mại quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ giữa phương Đông và phương Tây (mà xu thế chủ đạo là sự xâm nhập của phương Tây TBCN vào phương Đông phong kiến). Do có vị thế đặc biệt, nên một cuộc giao thương diễn ra mạnh mẽ ở nước ta, cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài. Nông nghiệp, thủ công nghiệp phát triển đã làm nảy sinh nền kinh tế hàng hóa ở nước ta. Đây thực sự là điều kiện cơ bản cho công cuộc giao thương.

Một mạng lưới chợ búa hình thành khắp nơi trong cả nước, đặc biệt ở các thị tứ, thị trấn. Các trung tâm thương mại đã dần hình thành. Ngoài “nhất kinh kỳ, nhì Phố Hiến” ở Đàng Ngoài vốn đã hình thành từ sớm, nay có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn, ở Đàng Trong, với chủ trương đẩy mạnh thương nghiệp, các chúa Nguyễn đã tạo điều kiện cho sự ra đời các trung tâm thương mại: Thanh Hà, Hội An, Nước Mặn, Cù lao Phố, Hà Tiên, Mỹ Tho, Bãi Xàu, Bến Nghé,. 11 Sự phát triển kinh tế hàng hóa đã làm nảy sinh những tiền đề của chủ nghĩa tư bản vào các thế kỷ XVII, XVIII ở nước ta.

Tuy còn yếu ớt, chưa trở thành một bộ phận kinh tế độc lập, chưa có vai trò quan trọng trong xã hội và chưa đủ khả năng tạo ra quan hệ sản xuất mới làm tan rã phương thức sản xuất cũ, nhưng nó đã chứng tỏ xu thế phát triển tất yếu và khả năng tạo ra sự chuyển biến trong nội tại nền kinh tế nước ta vốn mang tính chất tiểu nông theo tinh thần “trọng nông ức thương” đã tồn tại lâu đời. Đến cuối thế kỷ XVIII, cả Đàng Ngoài lẫn Đàng Trong, cơ hội cho sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa cơ bản không còn thuận lợi như trước. Sang đầu thế XIX, xu thế phát triển của xã hội Việt Nam đang có những chuyển biến mới. Sau một thời gian loạn lạc kéo dài, vấn đề phục hồi nông nghiệp và phát triển công thương nghiệp trở nên bức xúc hơn bao giờ hết.

Song, thực tế các vua nhà Nguyễn, ngay cả những ông vua đầu triều cũng không thể đáp ứng được yêu cầu của lịch sử đặt ra. Theo tư liệu của những người nước ngoài có mặt ở nước ta hồi nửa đầu thế kỷ XIX, thì tình hình kinh tế nói chung, công thương nghiệp nói riêng, đặc biệt hoạt động ngoại thương ở nước ta hồi nửa đầu thế kỷ XIX không đáp ứng được yêu cầu và xu thế thời đại, thậm chí suy yếu, tàn tạ hơn các thế kỷ trước. Bức tranh ảm đạm đó tồn tại mãi cho đến khi thực dân Pháp xâm lược nước ta vào giữa thế kỷ XIX. Nhà Nguyễn độc quyền về ngoại thương.

Cùng với chính sách “đóng cửa” về kinh tế, nhà Nguyễn còn thi hành chính sách cấm đạo Thiên Chúa một cách cực đoan nhằm ngăn chặn âm mưu của các nước phương Tây dùng Thiên Chúa giáo để can thiệp vào nội tình của Việt Nam, nhất là Pháp. Có thể nói, các vị vua đầu triều Nguyễn đã có những đóng góp to lớn đối với đất nước về các mặt kinh tế và văn hóa. Song do không có đường lối đối ngoại phù hợp với xu thế của thời đại, lại lúng túng trong việc “trả món nợ” phương Tây, khiến cho từ Minh Mạng đến Tự Đức không tìm ra được lối thoát, hầu đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng. Chính sách “bế môn tỏa cảng”, cấm đạo, sát đạo đã tạo thêm cơ hội cho thực dân Pháp tiến hành xâm lược và thôn tính nước ta vào cuối thế kỷ XIX.

Tình hình bang giao quốc tế và cuộc tiếp xúc Đông – Tây Sự phát triển của kinh tế công thương nghiệp châu Âu thời kỳ này làm nảy sinh nhu cầu tìm kiếm thị trường ngoài châu lục. Châu Á được coi là một thị trường béo bỡ có sức hấp 12 dẫn lớn đối với CNTB phương Tây. Con đường hàng hải từ châu Âu theo Đại Tây Dương qua bờ biển châu Phi lại được nối liền với Ấn Độ Dương, mở đường cho sự bành trướng của CNTB phương Tây sang phương Đông. Cùng với Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Hà Lan, Anh, Pháp cũng tìm cách đến giao thương với nhiều nước châu Á, châu Phi.

Để cạnh tranh, công ty Đông Ấn Anh, công ty Đông Ấn Hà Lan, công ty Đông Ấn Pháp được thành lập,. Các nước Tây Âu thực sự tổ chức cuộc chạy đua kiếm lợi nhuận từ hàng hóa của các nước phương Đông. Thương mại khu vực châu Á phát triển sôi động hẳn lên. Ngoài việc buôn bán với các nước láng giềng truyền thống, vào thế kỷ XVII - XVIII, do chịu ảnh hưởng của luồng thương mại quốc tế, hầu hết các quốc gia Đông Nam Á và cả châu Á đều tiếp xúc và buôn bán với các nước phương Tây ở những mức độ khác nhau.

Tình hình bang giao châu Á có những thay đổi bởi những chính sách đối ngoại của các nhà nước phong kiến. Ngoài hoạt động thương mại, trong bang giao quốc tế và khu vực thời kỳ này còn có những hoạt động truyền giáo của Giáo hội Thiên Chúa giáo tại nhiều nước châu Á nhằm gây thế lực thần quyền cũng như thế quyền ở những vùng đất mới. Khoảng năm 1635, Giáo hội Đàng Trong của nước Đại Việt được thành lập. Xúc tiến thương mại Đông – Tây, phát triển giao thương giữa các nước trong khu vực, đẩy mạnh hoạt động truyền giáo là những nét nổi bật của tình hình bang giao quốc tế và khu vực châu Á thế kỷ XVII - XIX.

Sang thế kỷ XIX, khi CNTB phương Tây phát triển mạnh trên phạm vi toàn thế giới và vùng Viễn Đông nói riêng, nhằm mở rộng thị trường và tìm nguồn khai thác nguyên liệu với sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các nước TBCN, thì chiến lược giao thương đã từng bước được thay bằng chiến lược tiến công xâm lược. 13 CHƯƠNG 2: NHỮNG YÊU CẦU LỊCH SỬ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM VÀ THÁI ĐỘ CHÍNH TRỊ CỦA SĨ PHU GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỶ XVIII ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX 2. Những yêu cầu lịch sử đặt ra đối với Việt Nam 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ