Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG Chương này giải thích nền tảng của nghiên cứu. Nó cung cấp phần giới thiệu để hướng dẫn người đọc vào chủ đề nghiên cứu. Các tuyên bố vấn đề và biện minh của nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, mục tiêu, phạm vi nghiên cứu và đóng góp nghiên cứu cho kiến thức cũng như phác thảo của luận văn được bao gồm trong chương này. 6 Chương 2: TỔNG QUAN Chương này thảo luận về BIM với trọng tâm cụ thể về khái niệm, đặc điểm BIM, phân loại các cấp độ BIM, tình hình áp dụng BIM trên thế giới và ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, chương này còn trình bày về những lợi ích mà BIM mang lại ngành công nghiệp xây dựng. Cuối cùng, chương này cho thấy các rào cản và thách thức khác nhau trong việc triển khai BIM hiện nay. Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương này trình bày thiết kế nghiên cứu chi tiết và phương pháp. Chương này cũng giải thích kỹ thuật được sử dụng trong phân tích và các vấn đề liên quan đến thu thập dữ liệu.
Chương 4: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG BIM TRONG GIAI ĐOẠN TIỀN XÂY DỰNG Chương này sẽ tiến hành phân tích những ứng dụng BIM đang được triển khai tại các doanh nghiệp và những lợi ích mà BIM mang lại trong giai đoạn tiền xây dựng. Bên cạnh đó, chương này sẽ cho chúng ta thấy được những yếu tố tạo nên sự khó khăn, thách thức khi áp dụng BIM trong giai đoạn tiền xây dựng hiện nay. Và cuối cùng là kết quả phân tích mức độ tương quan giữa các nhân tố gây cản trở đến lợi ích mà BIM mang lại trong giai đoạn tiền xây dựng. Chương 5: NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG BIM TRONG DỰ ÁN NHÀ XƯỞNG Chương này sẽ giúp chúng ta hiểu được lợi ích cũng như khó khăn trong việc áp dụng BIM đối với dự án nhà xưởng trên phương diện quản lý khối lượng thông qua một công trình thực tế.
Từ đó, đánh giá chính xác về giá trị mà BIM mang lại, đồng thời tìm giải pháp giảm thiểu rủi ro khi áp dụng BIM trong các dự án nhà xưởng. Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Chương này sẽ tổng hợp lại các phân tích được trình bày trong chương bốn và năm. Đồng thời đưa ra một số khuyến nghị nhằm giúp BIM được ứng dụng rộng rãi hơn nữa trong giai đoạn tiền xây dựng và hạn chế những rủi ro mà BIM mang lại. TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 7 - TỔNG QUAN 2.
CÁC CÔNG TÁC CỦA GIAI ĐOẠN TIỀN XÂY DỰNG Các công tác chính của giai đoạn tiền xây dựng bao gồm: Thiết kế - Đấu thầu – Lập kế hoạch tổ chức, quản lý dự án. THIẾT KẾ GIAI ĐOẠN TIỀN XÂY DỰNG LẬP KẾ ĐẤU HOẠCH THẦU QLDA Sơ đồ 2.1: Các công tác chính trong giai đoạn tiền xây dựng Thiết kế là công đoạn đầu tiên trong giai đoạn tiền xây dựng. Ở công đoạn này, ý tưởng hình dáng kiến trúc, giải pháp kinh tế - kỹ thuật và công năng của công trình được những nhà kiến trúc sư và kỹ sư xây dựng tính đến. Chất lượng công tác thiết kế có vai trò quan trọng, quyết định hiệu quả của vốn đầu tư.
Trong giai đoạn tiền xây dựng, chất lượng thiết kế quyết định việc sử dụng vốn đầu tư tiết kiệm, hợp lý, kinh tế. Trong giai đoạn xây dựng, chất lượng công tác thiết kế có ảnh hưởng lớn đến chất lượng công trình tốt hay không tốt, an toàn hay không an toàn, tiết kiệm hay lãng phí, điều kiện thi công thuận lợi hay khó khan, tiến độ thi công nhanh hay chậm, … Vì vậy, công tác thiết kế được coi là có vai trò quan trọng nhất trong các giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng. Tóm lại, thiết kế xây dựng là khâu quan trọng hàng đầu trong hoạt động đầu tư xây dựng. Nó có vai trò chủ yếu quyết định hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án đầu tư.
8 Đấu thầu xây dựng là quá trình lựa chọn các nhà thầu đáp ứng được các yêu cầu về xây dựng, lắp đặt thiết bị công trình của bên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu xây dựng. Đấu thầu được xem là phương pháp quản lý dự án có hiệu quả nhất hiện nay trên cơ sở chống độc quyền, tăng cường khả năng cạnh tranh giữa các nhà thầu. Một trong những yếu tố quan trọng nhất để thắng thầu đó là giá trị của gói thầu. Giá trị này được tạo nên bởi nhiều yếu tố từ ý tưởng kiến trúc, giải pháp kết cấu cho đến những biện pháp thi công và cách thức tổ chức quản lý thi công trên công trường sau khi trúng thầu dự án.
Nhờ vào tính cạnh tranh giữa các nhà thầu mà giá trị gói thầu được tiết kiệm một cách tối đa với những giải pháp tối ưu nhất cho dự án. Vì vậy, tổ chức đấu thầu trong xây dựng có hết sức quan trọng đối với chủ đầu tư và có ý nghĩa sống còn đối với các nhà thầu xây dựng. Lập kế hoạch quản lý dự án bao gồm nhiều công đoạn như tổ chức mặt bằng công trường, lập biện pháp thi công và tiến độ thi công. Công tác thiết kế tổ chức thi công có vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn tiền xây dựng.
Công tác tổ chức thi công đảm bảo cho công việc thi công trên công trường được tiến hành một cách điều hòa, nhịp nhàng và cân đối. Những giải pháp hay sẽ giúp rút ngắn tiến độ thi công, nâng cao chất lượng công trình và hạ giá thành xây dựng công trình. Và quan trọng nhất là đảm bảo an toàn cho người lao động và công trình xây dựng. TỔNG QUAN VỀ BIM 2.
Khái niệm và phân loại về Mô hình thông tin công trình – Building Information Modelling (BIM) 2. Khái niệm về BIM Mô hình thông tin công trình BIM (Building Information Modelling) được định nghĩa là quy trình tạo lập, lưu trữ, quản lý, trao đổi và chia sẻ thông tin xây dựng một cách tương tác và tái sử dụng được [7]. Nó đòi hỏi sự tạo dựng và phát triển một mô hình trên máy tính tạo ra để mô phỏng quy hoạch, thiết kế, xây dựng và vận hành của một dự án. 9 Một cách tiếp cận khác, Mô hình thông tin công trình - BIM là một phương pháp để tối ưu hóa thiết kế, trình tự thi công và vận hành của công trình xây dựng.
BIM cho phép chủ đầu tư, nhà thầu, … xây dựng một công trình ảo trước rồi mới đến công trình trên thực tế. Bằng cách này, BIM mang đến cho các đơn vị tham gia dự án cái nhìn tổng quan và toàn diện, từ đó đưa ra những giải pháp tối ưu, những quyết định kịp thời, đồng thời BIM mang đến cho người dùng khả năng quản lý tốt cả số lượng lẫn chất lượng và khả năng trao đổi thông tin tốt hơn. Giải quyết được các vấn đề liên quan ngay ở giai đoạn ban đầu của dự án sẽ giúp các bên đạt được kết quả là tiết kiệm đáng kể về mặt thời gian, chi phí và năng lượng. Từ “Building” có nghĩa là công trình, tức toàn bộ các giai đoạn khi bắt đầu dự án và xuyên suốt cho đến khi dự án.
“Information” là từ có ý nghĩa quan trọng nhất trong BIM, nó có nghĩa là toàn bộ những thông tin liên quan đến công trình, những thông tin này bao gồm thông tin về hình học và phi hình học của dự án. Thông tin được tạo ra từ giai đoạn này của dự án có thể được chuyển giao và phát triển cho các giai đoạn khác của dự án tạo nên sự kế thừa thông tin. Từ “Modelling” không mang ý nghĩa đơn thuần là mô hình 3 chiều (3D) mà nó đại diện cho các tất cả hệ thống và quy trình trong suốt vòng đời dự án. Chính vì vậy, BIM không phải là phần mềm, mà nó chính là một quy trình, một phương pháp làm việc, cộng tác, thiết kế, quản lý, thi công và vận hành dự án.
Còn trên thế giới, một định nghĩa về BIM được chấp nhận bởi nhiều tổ chức khác nhau như sau: "Mô hình thông tin công trình là sự biểu diễn bằng số các thuộc tính vật lý và chức năng của công trình, chia sẻ nguồn tri thức các thông tin của công trình, tạo một cơ sở đáng tin cậy cho các quyết định trong suốt vòng đời từ ý tưởng ban đầu cho đến khi dỡ bỏ nó" [8]. Eastman và cộng sự (2011) xem BIM là một quá trình hỗ trợ giao tiếp (chia sẻ dữ liệu), cộng tác (hành động trên dữ liệu chia sẻ), mô phỏng (sử dụng dữ liệu để dự đoán) và tối ưu hóa (sử dụng phản hồi để cải thiện thiết kế), họ đã xem BIM như là hoạt động của con người, tức là, mô hình hoá, thay vì nhìn nhận nó như một là một phần mềm cụ thể [9]. 10 Gu và London (2010) định nghĩa rằng BIM là một phương pháp công nghệ thông tin cho phép áp dụng một tập hợp các kỹ thuật số thông tin công trình vào các giai đoạn khác nhau của vòng đời dự án dưới dạng một kho dữ liệu [10]. Nó có thể là ở dạng ba chiều (3D); bốn chiều (4D) (tích hợp thời gian); hoặc thậm chí 5 chiều (5D) (bao gồm cả chi phí); và phải tối đa (nD) (một thuật ngữ bao gồm bất kỳ thông tin nào khác).
Tóm lại, BIM có thể được xác định thông qua sự kết hợp của nhiều định nghĩa, nơi mà nó xem như là một quá trình quản lý sử dụng công nghệ thông tin để thu thập, khai thác và chia sẻ thông tin về một dự án, một công trình. Phân loại các cấp độ của BIM Bên cạnh mô hình BIM 3D, có nhiều thuật ngữ, khái niệm và ứng dụng BIM mới đã được phát triển như 4D, 5D, 6D và 7D (D trong thuật ngữ 3D BIM có nghĩa là dimensional tức là số chiều hay số lượng thông tin có trong mô hình đó) và nó có nhiều mục đích khác nhau cho ngành xây dựng. Gu (2010) đã phân loại các loại BIM [10] như sau: 3D: ba chiều có nghĩa là chiều cao, chiều dài và chiều rộng. 4D: 3D cộng với thời gian lập kế hoạch xây dựng và lập kế hoạch dự án.
5D: 4D cộng với ước tính chi phí. 6D: địa hình công trường cộng 5D. Điều này đòi hỏi sự tích hợp của hệ thống thông tin địa lý (GIS) và BIM. Với sự tích hợp của GIS, tất cả các hạng mục trong mô hình ngoài công trình sẽ mang thông tin vị trí và độ cao chính xác (X, Y, Z) khi chúng ở trong thế giới xây dựng thực.
7D: BIM cho quản lý vòng đời dự án.