phần mở đầu và kết luận có 3 phần chính: + Chƣơng 1: “Cơ sở của mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào” khái quát bối cảnh, nền tảng trụ cột của quan hệ Việt - Lào từ trước tới nay và những đường lối, quan điểm chính sách đối nội và đối ngoại của cả hai nước có tác động tới tính chất mối quan hệ song phương đó; + Chƣơng 2: “Nhân tố và nội dung của thách thức trong quan hệ Việt - Lào” đã phân tích, lập luận làm rõ về những nhân tố tác động, nguyên 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhân hình thành những thách thức đối với quan hệ Việt - Lào, nội dung của những thách thức chủ yếu hiện nay đối với quan hệ Việt - Lào; + Chƣơng 3: “Đánh giá và kiến nghị” tập trung rút ra những nhận định về bản chất quan hệ Việt - Lào và xu hướng có thể diễn ra, làm cơ sở để đưa ra những kiến nghị, phương hướng giải quyết quan hệ Việt - Lào trong thời gian tới. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ CỦA MỐI QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT - LÀO 1. Bối cảnh quan hệ Việt - Lào từ năm 1991 đến nay Từ năm 1991, tình hình quốc tế có bước chuyển biến quan trọng, đó là sự kiện mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô sụp đổ, chiến tranh Lạnh kết thúc. Siêu cường Mỹ tạm thời trong một thời gian ngắn chiếm thế thượng phong trước khi cục diện thế giới đa cực hình thành khi bước sang thế kỷ 21.
Cùng thời điểm Chiến tranh Lạnh kết thúc, năm 1991 là lúc xảy ra bước ngoặt trong quan hệ Việt - Trung đánh dấu bằng việc hai nước bình thường hóa quan hệ, mở ra thời kỳ hợp tác, cùng phát triển. Đó là những nét chuyển biến cơ bản nhất của tình hình thế giới, khu vực có tác dụng định hình quan hệ Việt Nam - Lào tới nay, cụ thể như sau: Từ thập niên cuối của thế kỷ 20, cục diện quan hệ chính trị ở bán đảo Đông Dương có bước thay đổi căn bản. Điều này xuất phát từ những chuyển biến quan trọng cả ở phạm vi thế giới và trong khu vực. Bối cảnh thế giới Vào năm 1991, mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, đánh dấu thời kỳ trật tự thế giới chia làm hai cực (trật tự Yalta) bị phá vỡ, mở ra kỷ nguyên hòa bình, hợp tác, cùng phát triển trên toàn thế giới.
Xu thế gạt bỏ ý thức hệ chính trị để tiến hành đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ hợp tác diễn ra rộng khắp. Trong bối cảnh đó, trật tự thế giới đơn cực khá ngắn ngủi trong vòng khoảng một thập kỷ dần được thay bằng một trật tự thế giới mới đa trung tâm quyền lực ngày càng vững chắc, với các yếu tố mới nổi lên như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, EU. Đây là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa và tự do thương mại. Từ khoảng những năm 2000 tới nay (2018), bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi.
Điển hình là sự nổi lên của những nước trong khối BRIC đặc biệt là Trung Quốc khiến cho cuộc cạnh tranh chiến lược mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Nhưng kinh tế, thương mại và đặc 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biệt là cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra vô cùng nhanh chóng, internet và công nghệ thông tin khiến cho ranh giới và chủ quyền quốc gia mang những khái niệm mới. Hợp tác quốc tế được đẩy mạnh hơn bao giờ hết, ở mọi cấp độ: song phương, khối, tiểu khu vực, khu vực và toàn cầu… Tất cả các nước, trong đó có Lào và Việt Nam đều chịu ảnh hưởng và chủ động hòa vào sự vận động của thế giới trong thời kỳ mới. Bối cảnh khu vực Từ cuối những năm 1980 và đầu 1990, tại khu vực cũng diễn ra những chuyển biến quan trọng bởi xu hướng giải quyết dứt điểm những mâu thuẫn, chia rẽ.
Những vấn đề gây xung đột còn sót lại sau chiến tranh ở Đông Dương dần được giải quyết, điển hình là việc Việt Nam hoàn thành rút quân khỏi Căm-pu-chia (1989) mở đường cho cuộc tổng tuyển cử ở nước này. Năm 1988,trong chuyến thăm Việt Nam, thủ tướng Thái Lan Chatichai Choonhavan có câu nói nổi tiếng:“biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường”. Đó là dấu mốc các nước trong khu vực xóa bỏ những kỳ thị, mâu thuẫn để tiến tới hợp tác rộng khắp và toàn diện. Trong cùng giai đoạn đó, vào năm 1989 tại Trung Quốc xảy ra sự kiện Thiên An Môn gây chấn động.
Từ hiệu ứng của sự kiện Thiên An Môn, Trung Quốc lâm vào cảnh bị thế giới phương Tây kỳ thị, cô lập. Để tiến trình cải cách, mở cửa phát triển kinh tế không bị ngưng trệ trên thế bất lợi, Trung Quốc tìm cách phá thế cô lập, đột phá bởi mắt xích bình thường hóa thiết lập quan hệ ngoại giao hữu nghị với tất cả các nước xung quanh. Khu vực láng giềng cũng là nơi mà các quốc gia ít bày tỏ lập trường về tình hình nội bộ Trung Quốc diễn ra ở thời kỳ đó. Do hướng đối ngoại thời kỳ này của Trung Quốc tập trung vào các nước láng giềng cũng đã tạo ra xu hướng tăng cường hợp tác tại khu vực, bình thường hóa, thiết lập quan hệ ngoại giao với tất cả các nước Đông Nam Á.
Cũng trong giai đoạn đó, Việt Nam và Lào gia nhập vào khối ASEAN vốn trước đây được mệnh danh là “NATO” ở Đông Nam Á để chống lại sự hình thành các quốc gia cộng sản ở Đông Dương. Tất cả đã 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho thấy sự hàn gắn vết thương chia rẽ, kì thị giữa các nước trong khu vực được thực hiện trong một tiến trình rộng khắp và nhanh chóng. Từ cục diện hòa hoãn của thế giới, cho tới sự tích cực chủ động nối lại quan hệ ngoại giao, hòa giải trong khu vực là những diễn biến song trùng quan trọng, liên tục vào cuối những năm 1980 tới những năm 1990; cả Việt Nam và Lào trong một thời gian ngắn đã nhanh chóng tiến hành bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (Lào 1989, Việt Nam 1991). Từ năm 2000 tới nay, sự tăng tốc của toàn cầu hóa, hợp tác trên bình diện toàn cầu, hợp tác và cạnh tranh chiến lược gay gắt trong khu vực, vai trò của ASEAN (mà cả Lào và Việt Nam cùng là thành viên) ngày càng cao trên trường quốc tế.
An ninh khu vực lại có nhiều thách thức hơn, đặc biệt là nổi lên của tranh chấp ở Biển Đông trước tham vọng của Trung Quốc càng đẩy mâu thuẫn và chia rẽ giữa các nước trong khu vực lên mức cao hơn. Đây là dấu mốc lịch sử quan trọng, bước ngoặt làm thay đổi tính chất, cục diện quan hệ quốc tế, trong đó có quan hệ Việt - Lào. Tình hình nói trên vừa là điều kiện, vừa là lý do tạo nên môi trường quan hệ Việt - Lào cho tới nay. Đặc điểm, tình hình của Việt Nam và Lào Việt Nam và Lào là hai quốc gia láng giềng quan trọng của nhau với 2.430 km đường biên giới chung (chiếm hơn nửa tổng chiều dài biên giới đất liền của Việt Nam).
Lịch sử bang giao Việt - Lào ít có ghi chép nhưng đã hình thành từ lâu đời. Tuy vậy, quan hệ song phương chỉ hình thành rõ nhất là từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời năm 1930 tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng trước kẻ thù chung của hai dân tộc. Quan hệ đối ngoại giữa hai quốc gia được chính thức hóa trong vòng 56 năm trở lại đây, khi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao trên cơ sở mối quan hệ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Vương quốc Lào ngày 5/9/1962. Thời kỳ diễn ra các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đã tạo điều kiện để hai nước cùng xây dựng một hệ thống chính trị gần gũi tương đồng và hợp tác hiệu quả, trong đó ý thức hệ chính trị luôn đóng vai trò 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan trọng hàng đầu.
Từ sau năm 1975, Lào tiếp tục gắn bó đoàn kết với Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước theo con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hai bên đã ký Hiệp ước hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt - Lào (1977) và đến nay là “quan hệ hữu nghị truyền thống đoàn kết đặc biệt hợp tác toàn diện”. Xét tổng thể, quan hệ Việt - Lào tiếp tục được củng cố, phát triển tích cực, đi vào chiều sâu hợp tác hiệu quả, thực chất trên tất cả các lĩnh vực, góp phần vào sự phát triển của mỗi nước. Về chính trị, lãnh đạo nhà nước Lào tiếp tục khẳng định đường lối nhất quán là đặc biệt coi trọng, giữ gìn và phát triển quan hệ đoàn kết đặc biệt Lào - Việt Nam, coi đó là mối quan hệ chặt chẽ, nhất quán, sinh động “không giống ai và không ai giống”.
Mối quan hệ “tương quan, tương mệnh” qua quá trình lịch sử hào hùng đã tạo nên chất kết dính khăng khít đặc biệt hiếm có giữa hai quốc gia. Nhân dân hai nước và đội ngũ lãnh đạo qua các thời kỳ đều cơ bản nhất quán quan điểm coi quan hệ với Việt Nam là “đặc biệt, có một không hai” trong đó ưu tiên cho việc tăng cường quan hệ giữa hai Đảng, hệ thống chính trị của hai nhà nước và tình cảm gắn bó của nhân dân hai bên dành cho nhau. Bối cảnh, điều kiện và đặc điểm tình hình thế giới, khu vực và của Lào và Việt Nam nêu trên là cơ sở, nền tảng trụ cột quan trọng của quan hệ Việt - Lào cho tới thời điểm hiện nay. Nền tảng của quan hệ Việt - Lào Nền tảng của của quan hệ Việt - Lào hiện nay (từ 1991 tới nay) bao gồm nhân tố bắt nguồn từ giai đoạn trước vẫn tiếp tục tồn tại ảnh hưởng và những yếu tố mới nảy sinh, phát triển hiện nay.
Lịch sử, truyền thống Việt Nam và Lào có lịch sử tương giao tốt đẹp. Giữa hai nước không có vấn đề lịch sử phức tạp từ xưa cho tới cận đại: không có hiềm khích, hận thù dân tộc; không thôn tính lẫn nhau hoặc tranh chấp lãnh thổ; không có tâm lý nghi ngờ, kỳ thị dân tộc trong bất cứ hoàn cảnh nào. Từ nửa đầu thế kỷ 20 khi 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.