ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay nhân loại đang phải đối mặt với sự diễn biến phức tạp của các bệnh dịch truyền nhiễm, đặc biệt ở các nƣớc đang phát triển, bao gồm cả bệnh dịch mới xuất hiện cũng nhƣ bệnh dịch cũ quay trở lại, cụ thể là các bệnh gây dịch nguy hiểm nhƣ: cúm A(H5N1), cúm A(H1N1), HIV/AIDS, Ebola, sốt xuất huyết, tay chân miệng. Một trong những bệnh thƣờng gặp ở trẻ nhỏ, có khả năng phát triển thành dịch lớn, gây ra nhiều hậu quả về kinh tế-xã hội đó chính là bệnh tay chân miệng. Đây là một bệnh nhiễm virus cấp tính do nhóm Enterovirus gây ra, bệnh có thể gây biến chứng nguy hiểm nhƣ viêm não- màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp và thậm chí dẫn tới tử vong nếu không đƣợc phát hiện sớm và xử lý kịp thời [12]. Theo Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization - WHO) thì bệnh tay chân miệng đã xảy ra tại nhiều nƣớc trên thế giới, nhƣng bệnh tập trung chủ yếu và đe doạ sức khoẻ trẻ em tại các nƣớc khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng [70].
Từ năm 2008 – 2012, ở Trung Quốc đã có 7.092 trƣờng hợp mắc tay chân miệng với tỷ lệ mắc mới hàng năm là 1,2/1.000 trẻ/năm; tập trung chủ yếu ở trẻ từ 12 – 36 tháng [73]. Vụ dịch tại Đài Loan năm 1998 đƣợc coi là vụ đại dịch lớn với 129.106 trƣờng hợp mắc tay chân miệng, 405 trƣờng hợp nặng và 78 trƣờng hợp tử vong; giai đoạn 1998-2005 thì bệnh tay chân miệng đã trở thành một bệnh phổ biến ở Đài Loan và bùng phát hai vụ dịch nhỏ vào năm 2000 và 2001 [54], [56], [70]. Theo nhận định của Tổ chức Y tế thế giới khu vực Tây Thái Bình Dƣơng, đã xuất hiện những vụ dịch tay chân miệng lan rộng ở một số nƣớc châu Á bao gồm Úc, Brunei, Trung Quốc, Nhật Bản, Malaisia, Hàn Quốc, Singapore và Việt Nam [70]. Tại Việt Nam, bệnh tay chân miệng đã và đang là vấn đề y tế quan trọng [11].
Theo báo cáo của Bộ Y tế, bệnh tay chân miệng gặp rải rác quanh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ download by : skknchat@gmail.com 2 năm ở hầu hết các địa phƣơng trong cả nƣớc. Trong năm 2012 cả nƣớc có 157.654 ca mắc, 45 ca tử vong và 3 tháng đầu năm 2013, cả nƣớc ghi nhận hơn 14.260 trƣờng hợp mắc bệnh tay chân miệng tại 63/63 tỉnh/thành phố trong đó có 4 trƣờng hợp tử vong [6]. Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, cửa ngõ giao lƣu kinh tế - xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ; điều kiện sống, điều kiện vệ sinh và trình độ nhận thức của ngƣời dân còn chƣa cao [18]. Đặc biệt là kiến thức nuôi dƣỡng chăm sóc trẻ cũng nhƣ hiểu biết của các bà mẹ về bệnh tay chân miệng còn hạn chế.
Đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho sự bùng phát dịch bệnh tay chân miệng và khó khăn cho công tác phòng chống bệnh dịch. Theo Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Thái Nguyên, dịch bệnh tay chân miệng bùng phát tại Thái Nguyên từ năm 2011 với 236 ca mắc tay chân miệng đƣợc giám sát và tiếp tục xuất hiện trong các năm tiếp theo [48]. Vấn đề đặt ra là thực trạng và xu hƣớng bệnh tay chân miệng ở Thái Nguyên nhƣ thế nào? Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ có con dƣới 5 tuổi về bệnh tay chân miệng ra sao? Đây thực sự là thông tin có giá trị thực tiễn để giúp ngành y tế tỉnh Thái Nguyên dùng làm cơ sở khoa học chủ động xây dựng kế hoạch phòng chống dịch tay chân miệng trong địa bàn tỉnh Thái Nguyên, góp phần ngăn chặn dịch xảy ra và bùng phát trong cộng đồng, chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng bệnh và kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi về phòng chống bệnh tay chân miệng tại tỉnh Thái Nguyên” với mục tiêu sau: 1. Mô tả thực trạng bệnh tay chân miệng tại tỉnh Thái Nguyên năm 2011- 2013 2.
Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi về phòng chống bệnh tay chân miệng tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ download by : skknchat@gmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Đặc điểm chung của bệnh tay chân miệng 1. Khái niệm bệnh tay chân miệng Bệnh tay chân miệng (TCM) là bệnh nhiễm virus cấp tính, lây truyền theo đƣờng tiêu hoá, thƣờng gặp ở trẻ nhỏ và có khả năng gây thành dịch lớn.
Biểu hiện chính là tổn thƣơng da, niêm mạc dƣới dạng phỏng nƣớc ở các vị trí đặc biệt nhƣ niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, gối. Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm nhƣ viêm não - màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không đƣợc phát hiện sớm và xử trí kịp thời [13]. Tác nhân gây bệnh tay chân miệng thuộc nhóm vi rút đƣờng ruột (Enterovirus) gây ra. Các Enterovirus có khả năng gây bệnh TCM trong nhóm này gồm: virus Coxsackies, Echo và các virus đƣờng ruột khác, trong đó hay gặp là virus đƣờng ruột týp 71 (Enterovirus 71 - EV71) và Coxsackies A16.
EV71 là virus gây bệnh mà có thể gây các biến chứng nặng; thậm chí dẫn đến tử vong [27]. Các virus đƣờng ruột khác thƣờng gây bệnh nhẹ. Virus có thể tồn tại nhiều ngày ở điều kiện bình thƣờng và nhiều tuần ở nhiệt độ 4 0C. Tia cực tím, nhiệt độ cao, các chất diệt trùng nhƣ formaldehyt, các dung dịch khử trùng có chứa Clo hoạt tính có thể diệt virus [4].
Nguồn bệnh, thời kỳ lây truyền và đường lây truyền bệnh - Nguồn bệnh: là ngƣời mắc bệnh, ngƣời mang virus không triệu chứng. - Thời kỳ lây truyền: vài ngày trƣớc khi phát bệnh, mạnh nhất trong tuần đầu của bệnh và có thể kéo dài vài tuần sau đó, thậm chí sau khi bệnh nhân hết triệu chứng. Virus có thể thải qua phân trong vòng từ 2 - 4 tuần, cá biệt có thể tới 12 tuần sau khi nhiễm. Virus cũng tồn tại, nhân lên ở đƣờng hô hấp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ download by : skknchat@gmail.com 4 trên và đào thải qua dịch tiết từ hầu họng trong vòng 2 tuần.
Virus cũng có nhiều trong dịch tiết từ các nốt phỏng nƣớc, vết loét của bệnh nhân. - Đường lây truyền: Bệnh TCM lây qua đƣờng tiêu hoá: thức ăn, nƣớc uống, bàn tay của trẻ hoặc của ngƣời chăm sóc trẻ, các đồ dùng đặc biệt là đồ chơi và vật dụng sinh hoạt hàng ngày nhƣ chén, bát, đĩa, thìa, cốc bị nhiễm virus từ phân hoặc dịch nốt phỏng, vết loét hoặc dịch tiết đƣờng hô hấp, nƣớc bọt. Ngoài ra bệnh cũng có thể lây truyền do tiếp xúc trực tiếp ngƣời - ngƣời qua các dịch tiết đƣờng hô hấp, hạt nƣớc bọt [4], [7]. Tính cảm nhiễm với virus gây bệnh tay chân miệng Mọi ngƣời đều có thể cảm nhiễm với virus gây bệnh nhƣng không phải tất cả những ngƣời nhiễm virus đều có biểu hiện bệnh.
Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhƣng thƣờng gặp ở trẻ dƣới 5 tuổi, đặc biệt ở nhóm dƣới 3 tuổi [34]. Ngƣời lớn ít bị mắc bệnh có thể do đã có kháng thể từ những lần bị nhiễm hoặc mắc bệnh trƣớc đây [4]. Hiện nay bệnh TCM chƣa có vắc xin phòng bệnh và chƣa có thuốc điều trị đặc hiệu [8], [66]. Chẩn đoán bệnh tay chân miệng Theo Quyết định số: 1003/QĐ-BYT về việc Ban hành hƣớng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh TCM [13], việc chẩn đoán xác định bệnh TCM dựa vào: 1.
Triệu chứng lâm sàng - Giai đoạn ủ bệnh: 3 - 7 ngày. - Giai đoạn khởi phát: Từ 1 - 2 ngày với các triệu chứng nhƣ sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn, tiêu chảy vài lần trong ngày. - Giai đoạn toàn phát: Có thể kéo dài 3 - 10 ngày với các triệu chứng điển hình của bệnh: + Loét miệng: vết loét đỏ hay phỏng nƣớc đƣờng kính 2 - 3 mm ở niêm mạc miệng, lợi, lƣỡi, gây đau miệng, bỏ ăn, bỏ bú, tăng tiết nƣớc bọt. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ download by : skknchat@gmail.com 5 + Phát ban dạng phỏng nƣớc: ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông; tồn tại trong thời gian ngắn (dƣới 7 ngày) sau đó có thể để lại vết thâm, rất hiếm khi loét hay bội nhiễm.
+ Biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp (nếu có) thƣờng xuất hiện sớm từ ngày 2 đến ngày 5 của bệnh. - Giai đoạn lui bệnh: thƣờng từ 3 - 5 ngày sau, trẻ hồi phục hoàn toàn nếu không có biến chứng. Các thể lâm sàng: - Thể tối cấp: bệnh diễn tiến rất nhanh có các biến chứng nặng nhƣ suy tuần hoàn, suy hô hấp, hôn mê dẫn đến tử vong trong vòng 24 - 48 giờ. - Thể cấp tính với bốn giai đoạn điển hình nhƣ trên.
- Thể không điển hình: dấu hiệu phát ban không rõ ràng hoặc chỉ có loét miệng hoặc chỉ có triệu chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp mà không phát ban và loét miệng. Cận lâm sàng - Các xét nghiệm cơ bản + Công thức máu: bạch cầu thƣờng trong giới hạn bình thƣờng. Bạch cầu tăng trên 16.000/mm3 hay đƣờng huyết tăng > 160 mg% (8,9 mmol/L) thƣờng liên quan đến biến chứng. + Protein C phản ứng (CRP) trong giới hạn bình thƣờng (< 10 mg/L).
+ Đƣờng huyết, điện giải đồ, X quang phổi đối với các trƣờng hợp có biến chứng từ độ 2b. - Xét nghiệm phát hiện virus (nếu có điều kiện) từ độ 2b trở lên hoặc cần chẩn đoán phân biệt: lấy bệnh phẩm hầu họng, phỏng nƣớc, trực tràng, dịch Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ download by : skknchat@gmail.com 6 não tuỷ để thực hiện xét nghiệm RT-PCR hoặc phân lập virus chẩn đoán xác định nguyên nhân [13]. Điều trị bệnh tay chân miệng Theo Quyết định số: 1003/QĐ-BYT về việc Ban hành hƣớng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh tay chân miệng [13]. Nguyên tắc điều trị - Hiện nay chƣa có thuốc điều trị đặc hiệu, chỉ điều trị hỗ trợ (không dùng kháng sinh khi không có bội nhiễm).
- Theo dõi sát, phát hiện sớm, phân độ đúng và điều trị phù hợp. - Trƣờng hợp nặng phải đảm bảo xử trí theo nguyên tắc hồi sức cấp cứu - Bảo đảm dinh dƣỡng đầy đủ, nâng cao thể trạng. Phân tuyến điều trị - Trạm y tế xã và phòng khám tƣ nhân + Khám và điều trị ngoại trú bệnh tay chân miệng độ 1 + Chuyển tuyến: đối với bệnh TCM độ 2a trở lên hoặc độ 1 với trẻ dƣới 12 tháng hoặc có bệnh phối hợp kèm theo.