CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THUC TIEN 1. Khái quát về vấn đề rèn luyện và phát triển năng lực tư duy và lập luận toán học 1. Năng lực tư duy và lập luận toán học Trong Về cấu trúc năng lực toán học của học sinh [11, tr 26], tác giả Trần Luận viết “Năng lực toán học là khả năng nhận biết ý nghĩa, vai trò của kiên thức toán trong cuộc sống, khả năng vận dụng tư duy toán học để giải quyết thực tiễn, khả năng phân tích, suy luận”. Những khả năng này bao gồm khả năng lập luận toán học và ứng dụng các khái niệm, quy trình, sự kiện và công cụ toán học dé mô tả, giải thích, và dự đoán các hiện tượng.
Những khả năng này hỗ trợ cá nhân trong việc nhận diện tam quan trọng của toán học trong cuộc sống và giúp họ đưa ra các đánh gia CÓ CƠ SỞ. Trong cuốn Tư duy của học sinh tác giả M.14] cho rằng: “Tư duy là sự nhận thức khái quát và gián tiếp những sự vật và hiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu những thuộc tính chung và bản chất của chúng, trong những mối liên hệ và quan hệ của chúng: tư duy cũng là sự nhân thức và xây dựng sáng tạo những sự vật hiện tượng mới, riêng lẻ của hiện thực trên cơ sở những tri thức khái quát đã thu nhận được”. Tư duy là một quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính bản chất phát hiện ra tính quy luật của sự vật, hiện tượng. Quá trình tư duy toán học ở Trung học cơ sở thường được thực hiện thông qua các thao tác tư duy: phân tích; so sánh, tổng hợp, cụ thé hóa, trừu tượng hóa, khái quát hóa.
Tư duy của con người và ngôn ngữ có mối liên kết sâu sắc: Tư duy con người không thể tách rời ngôn ngữ, và ngược lại người ta sử dụng ngôn ngữ làm công cụ đê biêu đạt các quá trình tư duy và kêt quả của các quá trình đó. 14 Ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ toán học nó riêng chính là phương tiện đồng thời là kết quả của việc thực hiện các hoạt động tư duy và sản pham của quá trình tư duy là các khái niệm, phán đoán, suy luận, được diễn đạt thông qua từ ngữ, ngữ pháp, câu văn và những yếu tố khác. Tư duy con người không thể tồn tại độc lập khỏi ngôn ngữ; ngược lại ngôn ngữ cũng không thể phát triển mà không có sự hỗ trợ của quá trình tư duy. Trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý [21] đưa khái niệm “lập luận là trình bày có lý lẽ, hệ thống dé chứng minh cho kết luận về van dé nào đó”.
Trong Giáo trình logic toán và lịch sử Toán học tác giả Nguyễn Anh Tuấn [20] cho rằng “Suy luận là một hình thức cơ bản của tư duy, dé rút ra một phán đoán mới từ một hay nhiều phán đoán đã có. Các phán đoán đã biết gọi là tiền đề, phán đoán mới được gọi là kết luận của suy luận, cách thức rút ra kết luận từ các tiền đề gọi là lập luận”. Trong lĩnh vực toán học, lập luận được định nghĩa là quá trình kết nối các tiền đề toán học đã biết để suy luận ra một tiền đề mới, và thường được trình bày bằng ngôn ngữ toán học. Tư duy và lập luận toán học có quan hệ mật thiết với nhau, biện chứng lẫn nhau, tư duy diễn ra trong suy nghĩ và bộc lộ ra bên ngoài qua ngôn ngữ, qua lập luận.
Cả tư duy và lập luận đều phải thông qua ngôn ngữ đề thực hiện thao tác, hoạt động. Như vậy, khả năng tư duy và lập luận toán học là năng lực mà mỗi cá nhân phát triển dựa trên những tiền đề được cung cấp và sử dụng ngôn ngữ toán học để đưa ra những kết luận chính xác. Đây là kết quả của quá trình tư duy logic, thông qua thực hiện một chuỗi các suy luận để giải quyết một vẫn đề. Nói cách khác, khả năng tư duy và lập luận toán học thể hiện khả năng vận dụng lập luận logic vào lĩnh vực toán học cũng như trong cuộc sống hằng ngày.
Trong mọi hoạt động học tập hoặc nhiệm vụ 15 mà học sinh cần thực hiện, họ phải sử dụng các yếu tố bài đã cho, kết hợp với tư duy và suy luận, để xác định chuỗi các bước cần thực hiện nhằm giải quyết vấn đề và đưa ra kết luận đúng. Chương trình giáo dục phố thông môn Toán và những yêu cầu can đạt cụ thể về phát triển năng lực tư duy và lập luận toán học. Khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông môn Toán 2018 với các sách giáo khoa tương ứng hướng tới hình thành và phát triển năng lực người học đặc biệt là nhiệm vụ học tập. Trong đó được thê hiện rõ bởi 5 thành tố cốt lõi: năng lực tư duy và lập luận toán học; năng lực mô hình hóa toán học; năng lực giải quyết van đề toán học; năng lực giao tiếp toán học; năng lực sử dụng công cụ, phương tiện toán học.
Chương trình môn Toán cấp THCS đòi hỏi học sinh phải có khả năng lập luận hợp lí khi giải quyết van đề, biết chứng minh được mệnh đề toán học. Cụ thé là ở phần Số học học sinh phải biết suy luận, lập luận và chứng minh. Các yêu cầu về tính chặt chẽ, lập luận có căn cứ trong chứng minh ngày càng cao hơn qua các khối lớp. Từ lớp 6 trở lên thì tâm sinh lí của các em ngày càng hoàn thiện hơn và các em đã được trang bị một số kiến thức cơ bản về các thuật ngữ, kí hiệu toán học, một số liên từ,.
bước đầu vận dụng được các định lí, tính chất, mối quan hệ giữa các yếu tố vào việc tính toán, chứng minh, giải bài tập. Nên đòi hỏi các lập luận phải chặt chẽ có căn cứ, chính xác, rõ ràng (cả về mặt ngôn ngữ). Vì thé từ học sinh lớp 6 trở lên việc rèn luyện năng lực tư duy và lập luận toán học là hết sức cần thiết. Trong bối cảnh chuyền tiếp từ Tiểu học sang Trung học Cơ sở, đặc biệt là với học sinh lớp 6 cần có những yêu cầu ở mức cao hơn.
Về vấn đề này cũng đã có nhiều người quan tâm, tuy nhiên cần có những nghiên cứu cụ thê hơn, xác thực hon dé thực hiện một cách hiệu quả hơn. Chương trình giáo dục phổ thông môn Toán (2018) đã đề cập đến một sô yêu câu quan trọng ở bậc Trung học cơ sở liên quan đên năng lực tư duy 16 và lập luận toán học. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của những kỹ năng này trong việc phát triển kiến thức và kỹ năng toán học của học sinh. Hãy cùng xem xét chỉ tiết.
Một trong những yêu cầu quan trọng đó là khả năng thực hiện các thao tác tư duy, đặc biệt là khả năng quan sát và giải thích sự tương đồng và khác biệt trong nhiều tình huống. Điều này yêu cầu học sinh không chỉ có khả năng nhận biết mà còn khả năng diễn đạt chính xác về những điểm tương đồng và khác biệt đó, thé hiện được su sâu sắc trong việc quan sát. Ngoài ra, chương trình cũng đề cập đến khả năng thực hiện việc lập luận hợp lý khi giải quyết vấn đề. Điều này đòi hỏi học sinh phải có khả năng xây dựng và trình bày lập luận một cách có logic và có thuyết phục khi đối mặt với các thách thức toán học.
Cuối cùng, chương trình yêu cầu học sinh có khả năng nêu và trả lời câu hỏi khi lập luận và giải quyết van dé, cũng như chứng minh được mệnh đề toán học không quá phức tạp. Điều này không chỉ là thách thức về kiến thức toán học mà còn đòi hỏi học sinh có khả năng diễn đạt ý kiến một cách rõ ràng và minh bạch. Những yêu cầu này không chỉ là những mục tiêu quan trọng của chương trình mà còn đặt ra những thách thức và cơ hội quan trọng trong việc rèn luyện năng lực tư duy và lập luận toán học của học sinh ở bậc Trung học cơ sở. Năng lực tư duy và lập luận toán học của học sinh lớp 6 là khả năng học sinh lớp 6 sử dụng các thao tác tư duy và lập luận toán học đề giải thích, chỉ ra chứng cứ, lập luận, điều chỉnh cách thức giải quyết vấn đề nhằm đưa ra kết luận đúng dựa trên các quy tắc suy luận toán học.
Như vậy, trong toán học chủ yếu người ta sử dụng suy luận logic thông qua các tình huống, hoạt động trong quá trình học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập. Từ đó dan dần hình thành, củng có các quy tắc suy luận trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập. Giúp học sinh thực hiện được các thao tác tư duy, quan sát đưa ra lập luận hợp lí và trả lời được đúng các câu hỏi khi lập luận giải quyêt vân đê, chứng minh được các mệnh đê toán học đơn giản. 17 Đặc biệt là đối với học sinh lớp 6, giáo viên cần rèn luyện cho học những kĩ năng cơ bản để có thê nắm được các quy tắc suy luận đơn giản làm cơ sở, nên tảng cho các lớp trên.
Với học sinh, trong mỗi hoạt động học tập hay nhiệm vụ học tập mà cá nhân học sinh cần hoàn thành đều phải dựa vào các yêu tố đề bài cho trước, tư duy và suy luận nhằm rút ra kết luận đúng dựa trên cơ sở vận dụng các quy tắc suy luận dé hoàn thành nhiệm vu học tập được đưa ra. Từ các đặc trung của dạy học phát triển năng lục chúng tôi cho rằng, trong dạy học toán nhằm phát triển năng lực tư duy và lập luận toán học, đặc biệt là khả năng lập luận dựa trên các quy tắc suy luận đơn giản cho học sinh lớp 6 giáo viên cần: - Khuyến khích học sinh suy nghĩ và đưa ra các giải pháp của riêng mình. Giáo viên nên cho học sinh thực hiện các bài toán mà các em có thể suy nghĩ một cách độc lập và tự trình bày lời giải theo cách nghĩ của mình. - Hướng dẫn học sinh tìm ra các kiến thức đã có, tìm ra các quy tắc có thé sử dung trong bài toán.
- Giáo viên nên sử dụng các hoạt động học tập linh động như tô chức trò chơi, sử dụng các đồ chơi giáo dục. dé học sinh có thé tiếp cận với các dạng toán khác nhau và phát triển năng lực tư duy và lập luận toán học.