CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỀN 1. Các van đề chung về kĩ năng 1. Khái niệm kĩ năng Trong cuộc sống, con người liên tục được học hỏi, trau déi những tri thức mới, những kinh nghiệm từ thế hệ trước đề lại.
Đồng thời, chúng ta cũng liên tục phải thực hiện các nhiệm vụ từ sự phát triển bản thân và từ yêu cầu của xã hội. Các nhiệm vụ từ cơ bản đến phức tạp đều đòi hỏi chúng ta vận dụng một số vốn tri thức, kinh nghiệm nhất định dé giải quyết. Điều cơ bản là chúng ta phải khéo léo và linh hoạt khi vận dụng các lí thuyết cơ bản để đưa vào từng trường hợp cụ thé. Thông qua quá trình học hỏi và vận dụng như vậy, con người dần hình thành các khả năng vận dụng lí thuyết cần thiết để giải quyết các vấn đề gặp phải.
Các khả năng đó được gọi chung lại là kĩ năng. Theo Tir điển tiếng Việt [24, tr 426], "kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tẾ". Khi nghiên cứu vê ki năng, có rat nhiêu quan diém đã được đưa ra, tùy thuộc vao quan điểm của từng người và tùy vào mỗi lĩnh vực, khái niệm kĩ năng chưa thực sự thống nhất thành một khái niệm chung. Chăng hạn trong lĩnh vực tâm lí học đê cập một sô khái niệm về kĩ năng được sử dụng như sau: Trong Tâm li học đại cương [2, tr 149], tác giả Nguyễn Quang Uan định nghĩa "ki „ăng là năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng dé phát hiện những thuộc tinh, bản chất của sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lí luận hay thực hành xác định".
Trong Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học Sư phạm [6, tr 131], tác giả Lê Văn Hồng cho rằng "kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp) dé giải quyết một nhiệm vụ moi”. Rudich đưa ra quan điểm: "ki năng là động tác mà cơ sở của nó là sự vận dụng thực tế các kiến thức đã tiếp thu đề dat được kết quả trong một hình thức hoạt động cụ thê” [19]. Ở đây tác giả đã quan niệm kĩ năng là hoạt động vật chất, hàm chỉ vận Art động vật chất cụ thể. Với quan niệm như vậy thuận lợi cho việc hình thành những kĩ năng vận động, những thao tác kĩ thuật,.
Quan niệm thứ hai coi kĩ năng là kha năng thực hiện một công việc hay việc thực hiện một hoạt động nào đó một cách có chất lượng và hiệu quả theo yêu cầu, theo mục đích xác định trong những điều kiện nhất định (thời gian, phương tiện, môi trường hoạt động, nguồn lực,. Hoặc kĩ năng là khả năng của con người thực hiện công việc một cách có hiệu quả và chất lượng trong một khoảng thời gian thích hợp, trong những điều kiện nhất định, dựa vào tri thức và thói quen hình thành được. Như vậy, quan niệm kĩ năng là quan niệm rộng hơn, không chỉ coi kĩ năng đơn thuần là hành động vật chất hay là động tác cụ thể, mà còn bao gồm cả hành động trí óc. Theo từ điển, "ki năng là năng lực sử dụng các dữ liệu, các tri thức hay các khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng dé phat hiện những thuộc tinh, bản chất của các sự vật và giải quyết thành công nhiệm vụ lí luận hay thực hành xác định” Như vậy, dù phát biểu dưới góc độ nào, các tác giả đều thống nhất rằng, kĩ năng là khả năng vận dụng các kiến thức, kinh nghiệm đã học dé giải quyết nhiệm vụ đặt ra.
Nói đến kĩ năng là nói đến cách thức, thủ thuật và trình tự thực hiện các thao tác hành động dé dat tới mục đích đã định. Đặc điêm của kĩ năng: Dựa trên khái niệm, tác giả đưa ra một sô đặc điêm của kĩ năng như sau: - Kĩ năng được hình thành dựa trên cơ sở lí thuyết. Bất cứ kĩ năng nào cũng phải dựa trên một hoặc một nhóm kiến thức cụ thé. Dé tạo nên một kĩ năng từ một cơ sở lí thuyết, ta cần hiểu mục đích của việc tạo nên kĩ năng đó, đồng thời biết cách thức tạo quy trình các thao tác dé hình thành kĩ năng, cũng như cần phải nắm được các yếu tố điều kiện có thê ảnh hưởng đến các thao tác đó.
- Kiến thức là cơ sở của kĩ năng khi kiến thức đó phản ánh đầy đủ các thuộc tính bản chất của đối tượng, được thử nghiệm trong thực tiễn và tồn tại trong ý thức với tư cách của hành động. - Kĩ năng của con người không phải là yếu tô bất biến trong suốt cuộc đời mà phụ thuộc vào người học thông qua chính hoạt động của họ trong mối quan hệ của họ với cộng đồng. 6 Tuy nhiên thực tiễn giáo dục cho thấy, học sinh gặp rất nhiều khó khăn trong việc vận dụng những khái niệm và những kiến thức đã lĩnh hội được dé giải quyết dau hiệu bản chat của đối tượng, từ đó phát hiện những mối liên hệ bản chất giữa tri thức đã có với đối tượng đó. Trong trường hợp này, tri thức không biến thành công cụ của hoạt động nhận thức, và như vậy khối kiến thức mà họ có là khô cứng, không gắn với thực tiễn, không biến thành cơ sở của các kĩ năng.
Tri thức về các sự vật là rất đa dạng và phong phú, nó phản ánh những thuộc tính khác nhau vả những thuộc tính bản chất của các sự vật. Như vậy dé tri thức trở thành cơ sở lựa chọn đúng đắn cho các hành động thì cần biết lựa chọn tri thức một cách đúng đắn và hợp lí, nói cách khác, cần lựa chọn tri thức phản ánh thuộc tính bản chất, phù hợp với mục tiêu của hành động. Tìm giới hạn sau lim x>te3—4x 2 l+—. 1 Ta có lim = lm——*=-—.
x23 — 4x v3 4 x Với bai toán này, cơ sở của ki năng là những kiến thức co bản về khử dang vô định của giới hạn hàm sô. Trước hêt học sinh phải nhận dạng được đây là giới hạn của hàm sô dạng ® Khi x dần tới +00 từ đó lựa chọn phương pháp thích hợp dé giải bài toán. Sau đó œ học sinh sử dụng kêt quả lim—=0, với c là hăng sô. Trong thực tế, nhiều học sinh thuộc lí thuyết nhưng không biết vận dụng vào bài tập hoặc làm được ví dụ vừa rồi nhưng không biết mình đã sử dụng định lí nào dé giải bài toán đó.
Hoặc nếu trong ví dụ đó ta thay x dần tới too thành x dan tới 1 thì lời giải có gì thay đổi không? Thực tế học sinh rất ling túng hay mắc phải những sai lầm thường gặp. Nguyên nhân của hiện tượng đó là do kĩ năng của học sinh chưa được hình thành. Sự hình thành kĩ năng Theo từ điển giáo dục học, dé hình thành được ki năng trước hết cần có kiến thức làm cơ sở cho việc hiểu biết, luyện tập từng thao tác riêng rẽ cho đến khi thực hiện được hành động theo đúng mục đích, yêu cầu. Do kiến thức là cơ sở của kĩ năng cho nên tùy theo kiên thức học sinh cân năm được mà có những yêu câu rèn luyện kĩ năng tương ứng.
Kĩ năng chỉ được hình thành thông qua quá trình tư duy để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra. Khi tiến hành tư duy trên các sự vật thì chủ thể thường phải biến đổi, phân tích đối tượng dé tách ra các khía cạnh và những thuộc tính mới. Quá trình tư duy dién ra nhờ các thao tác phân tích, tổng hợp trừu tượng hóa và khái quát hóa cho tới khi hình thành được mô hình về một mặt nào đó của đối tượng mang ý nghĩa bản chất đối với việc giải bài toán đã cho. Con đường hình thành kĩ năng rất phong phú và nó phụ thuộc vào các tham số như: Kiến thức xác định kĩ năng, yêu cầu rèn luyện kĩ năng, mức độ tích cực, chủ động của học sinh.
Tác giả đề xuất ba con đường đề hình thành kĩ năng cho học sinh: Con đường thứ 1: Truyền thụ cho học sinh những trí thức cần thiết, rồi sau đó đề ra cho học sinh những bai toán vận dụng những tri thức đó. Từ đó, học sinh sẽ phải tìm tòi cách giải, bằng những con đường thử nghiệm đúng đắn hoặc sai lầm (Thử các phương pháp rồi tìm ra phương pháp tối ưu), qua đó phát hiện ra các mốc định hướng tương ứng, những phương thức cải biến thông tin, những thủ thuật hoạt động. Con đường thứ 2: Dạy cho học sinh nhận biết những dấu hiệu mà từ đó có thể xác định được đường lối giải cho một dạng bài toán và vận dụng đường lối giải đó vào bài toán cụ thé. Con đường thứ 3: Day cho hoc sinh chủ yếu là các hoạt động tâm lí cần thiết đối với việc vận dụng tri thức.
Trong trường hợp nay giáo viên không những chỉ cho học sinh tim hiểu các mốc định hướng dé chọn lựa các dấu hiệu va thao tác mà còn tổ chức các hoạt động cho học sinh trong việc cải biến sử dụng thông tin thu được dé giai bai toan dat ra. Thực chat của sự hình thành kĩ năng là tạo dựng cho học sinh khả năng nam vững một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm làm biến đổi và sáng tỏ các thông tin chứa đựng trong bài toán. Khi hình thành kĩ năng cho học sinh cần tiến hành: - Giúp hoc sinh biệt cách tìm tòi đê nhận ra các yêu tô đã cho, yêu tô phải tìm và môi quan hệ giữa chúng. - Giúp học sinh hình thành một mô hình khái quát dé giải các bài toán cùng loại.
- Xác lập được mối liên quan giữa bài toán mô hình khái quát và kiến thức tương ứng. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kĩ năng Sự hình thành kĩ năng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau đây: - Độ phức tạp của hệ thống thao tác vận dụng kiến thức: Đề hình thành kĩ năng, ta cần tạo và hướng dẫn học sinh thực hiện nhiệm vụ thông qua một hoặc một nhóm các thao tác. Nếu các thao tác này có độ phức tạp quá cao sẽ gây cản trở trong việc hình thành kĩ năng. Ngay cả việc ghi nhớ đúng trình tự thao tác cũng đã phần nhiều ảnh hưởng đến sự hình thành kĩ năng.
Tuy nhiên trên thực tế vẫn sẽ có một số nhiệm vụ đòi hỏi một quy trình thao tác vận dụng kiến thức phức tạp.