CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ Trong thời đại mở rộng nhanh chóng của quá trình toàn cầu hoá kinh tế như hiện nay, tất cả các quốc gia đều bị cuốn hút vào hệ thống phân công lao động quốc tế. Việc tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh theo các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt tổ chức các công ty theo các mẫu hình có hiệu quả như kiểu công ty mẹ - công ty con đang được cả giới lý luận và hoạt động thực tiễn quan tâm. Để hiểu rõ hơn vấn đề này, sự phân tích được bắt đầu từ nhận diện chúng qua khái niệm. Khái niệm về Tập đoàn kinh tế.
TĐKT xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi CNTB chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang độc quyền. Cho đến nay, các TĐKT trên thế giới tồn tại dưới nhiều hình thức kinh doanh theo kiểu các nhóm công ty xí nghiệp lớn hoạt động trên phạm vi quốc gia hoặc xuyên quốc gia. Chúng là những công ty mạnh về tài chính với doanh số hàng năm từ vài trăm triệu đến vài trăm tỷ USD. Các tập đoàn này có nhiều chi nhánh, gồm các công ty con, cháu, và có thể hoạt động trong một hoặc nhiều lĩnh vực ngành nghề đa dạng.
Tuỳ từng quốc gia và giai đoạn lịch sử mà chúng được gọi bằng những tên khác nhau như: Cartel, Syndicat, Trust, Consortium, Group, Cambinate, Holding company, Concern, Conglomerate. Ở Hàn Quốc, người ta gọi chúng là các Chaebol, ở Nhật Bản thường gọi là Zaibatsu hay Keiretsu; ở Trung Quốc gọi là các Tập đoàn doanh nghiệp, ở Đài Loan lại gọi là Jituanque, vv. 8 Từ đó khái niệm về TĐKT cho đến nay cũng còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, dưới đây xin nêu một số quan điểm chủ yếu: - Quan điểm thứ nhất: Theo một số nhà nghiên cứu kinh tế thì, “TĐKT hay Tập đoàn kinh doanh (Group of Companies) là một tổ hợp các công ty độc lập về mặt pháp lý nhưng tạo lập thành một tập đoàn gồm một công ty mẹ và một hay nhiều công ty con hoặc chi nhánh góp vốn cổ phần, chịu sự kiểm soát của công ty mẹ vì công ty mẹ chiếm hơn một phần hai vốn cổ phần” [51]. - Quan điểm thứ hai: TĐKT là một nhóm (tập đoàn) các công ty trong đó có một công ty mẹ có quyền sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp các công ty trong nhóm “trong cơ cấu nhóm như vậy, các công ty con có thể trở thành Holding Company trong tập đoàn, có thể tự thực hiện các hoạt động, hoặc thông thường hơn nó chỉ hoạt động như là phương tiện sở hữu cổ phần trong tập đoàn các công ty, trong đó tập đoàn cũng như toàn bộ hoạt động đều có tính quốc tịch (Nationality) vì nhiều mục đích khác nhau (như kiểm tra, giám sát của chính phủ) và để đánh thuế theo những hoạt động mà chúng chịu trách nhiệm” [15, 20].
- Quan điểm thứ ba cho rằng: Tập đoàn là pháp nhân kinh tế do Nhà nước thành lập gồm nhiều DNTV, có quan hệ với nhau về sản xuất kinh doanh, dịch vụ và tài chính trên quy mô lớn [38]. - Quan điểm thứ tư: “ Tập đoàn là sự tập hợp tạm thời của các xí nghiệp độc lập, các tổ chức và các chính phủ, hợp lại với nhau để tập trung các tài nguyên và kỹ thuật của mình để đảm trách một công trình nhất định như một chương trình xây dựng lớn hoặc sản xuất máy bay” [34]. - Quan điểm thứ năm: TĐKT là một thực thể kinh tế thực hiện sự liên kết kinh tế giữa các thành viên là các DN có quan hệ với nhau về công nghệ và lợi 9 ích được gọi bằng các tên khác nhau như: Hiệp hội, LHXN, tổng công ty theo mô hình tập đoàn, Tập đoàn kinh doanh, Tập đoàn kinh tế Nhà nước. - Quan điểm thứ sáu: Một số nhà kinh tế và một số DN ở nước ta quan niệm như sau: “.
Tập đoàn các DN - thường gọi là TĐKT hay TĐKD, là một hình thức tổ chức kinh tế chỉ hình thành và tồn tại trong các nền kinh tế thị trường. Nó là một loại hình tổ chức kinh tế cổ phần được hình thành trong quá trình tạo liên kết, liên hợp hoá của nhiều công ty, xí nghiệp của nhiều chủ sở hữu khác nhau, hoạt động kinh doanh chuyên ngành hoặc đa ngành, thực hiện tập trung hoá tư bản, đẩy mạnh phân công chuyên môn hoá và đầu tư theo chiều sâu, nhanh chóng đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh để giành lợi nhuận siêu ngạch từ lợi thế hoặc độc quyền” [37]. Từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, khi mô hình kế hoạch hoá tập trung kiểu quan liêu bao cấp sụp đổ ở Đông Âu và Liên Xô (cũ), các nước XHCN đều tiến hành đổi mới kinh tế theo hướng xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, hình thức kinh doanh kiểu Tập đoàn ra đời: "Đó là một kiểu liên hợp các DN do một số pháp nhân thành lập và có cơ cấu tổ chức bao gồm một công ty mẹ và các công ty con được thành lập trên cơ sở một DN lớn làm nòng cốt và kết hợp một số DN khác có quan hệ góp vốn và quan hệ trong quá trình sản xuất, kỹ thuật, hợp đồng, vv. Như vậy, cho đến nay, vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về TĐKT.
Có nhiều nguyên nhân, nhưng cơ bản là do có những sự khác nhau về phương thức hình thành, nguyên tắc tổ chức, và tư cách pháp nhân của TĐKT. Có Tập đoàn được thành lập trên cơ sở như một hình thức tổ chức kinh tế lỏng lẻo, các công ty thành viên ký kết các thoả thuận liên kết kinh tế với nhau lập thành một tổ chức, trong đó có một công ty mẹ chi phối chiến lược chung của Tập đoàn, nhưng các 10 thành viên vẫn giữ nguyên tính độc lập kinh doanh của mình; Có loại hình Tập đoàn hình thành trên cơ sở sáp nhập thành một tổ chức thống nhất hoạt động theo những nguyên tắc cứng như một pháp nhân kinh tế; Có loại hình Tập đoàn hình thành trên cơ sở các thành viên thoả thuận thành lập một công ty tài chính riêng, công ty này đóng vai trò như một công ty mẹ chỉ đạo, chi phối hoạt động của các công ty thành viên. Về tư cách pháp nhân của Tập đoàn, có quan điểm cho rằng, TĐKT là pháp nhân kinh tế do Nhà nước thành lập gồm nhiều đơn vị thành viên, nhưng "ở nhiều nước, TĐKT không phải là một định chế pháp lý, tuy nó bao gồm nhiều doanh nghiệp khác nhau, có mối quan hệ về khế ước với nhau, hoạt động trong một hoặc nhiều ngành khác nhau, trên một hay nhiều nước. Điều đó có nghĩa TĐKT là một cơ cấu tổ chức, một loại hình tổ chức kinh tế" [33].
Mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau, song, từ những quan điểm trên đây ta có thể rút ra một số nét đặc trưng điển hình của TĐKT: Đó là một loại hình doanh nghiệp có quy mô lớn, kinh doanh chuyên ngành hoặc đa ngành được hình thành và phát triển trên cơ sở những liên kết của nhiều doanh nghiệp, hoạt động trên phạm vi quốc gia hoặc xuyên quốc gia v. Tuy nhiên, mỗi quan điểm trên đây chỉ đề cập đến một hay một số mặt của TĐKT, nó chưa phản ánh đầy đủ nội hàm TĐKT về cấu trúc tổ chức, quy mô, phạm vi hoạt động, phương thức hoạt động nên chưa làm nổi bật các đặc trưng điển hình của TĐKT. Từ phân tích trên có thể đi đến khái quát sau: TĐKT là một tổ hợp các liên kết pháp nhân kinh doanh thông qua nhiều mô hình và phương thức hoạt động khác nhau nhằm phát triển khoa học công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, gia tăng lợi thế về tập trung sản xuất và tính chất độc quyền trong khuôn khổ pháp luật. Nó hoạt động ở một hay nhiều ngành khác nhau trong phạm vi một nước hoặc nhiều nước, 11 trong đó có "công ty mẹ" nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các "công ty con" về mặt tài chính và chiến lược phát triển.
Khái quát này đã phản ánh được những đặc trưng cơ bản của TĐKT: Về quy mô, TĐKT phải là một tập hợp những công ty mạnh có vốn lớn, nhiều công nhân, trình độ năng lực sản xuất kinh doanh cao; Về phạm vi hoạt động, nó có thể là ở một nước (phạm vi quốc gia) hay vượt khỏi phạm vi một nước( xuyên quốc gia - phạm vi quốc tế); Về chức năng ngành nghề, nó có thể kinh doanh chuyên sâu một ngành hoặc đa ngành; Về cơ cấu tổ chức, TĐKT phải là một tổ hợp bao gồm công ty mẹ và các công ty con, cháu, chi nhánh tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Ngày nay, dưới tác động mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật làm cho lực lượng sản xuất biến đổi nhanh chóng, trình độ quốc tế hoá đời sống kinh tế ngày càng cao, nên ở các nước có nhiều con đường hình thành các TĐKT: có thể từ các công ty tư bản độc quyền, công ty tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc các công ty thuộc sở hữu Nhà nước. Các TĐKT, từ chỗ làm chủ thị trường quốc gia và khu vực đã vươn ra thị trường thế giới để hình thành các công ty xuyên quốc gia, đó cũng là một xu thế phổ biến trong điều kiện quốc tế hoá đời sống ngày càng được đẩy mạnh. Các TĐKT mặc dù có những đặc thù do bối cảnh kinh tế và đặc điểm từng quốc gia hay chế độ xã hội, song chúng vẫn có những đặc trưng chung mang "dấu ấn của thời đại” nhất định.
Hình thức tổ chức và các đặc trƣng chủ yếu của TĐKT. Hình thức tổ chức của TĐKT. Hiện nay trên thế giới, các TĐKT phát triển hết sức đa dạng, phong phú, việc xác định các hình thức tổ chức của TĐKT cũng dựa vào nhiều tiêu chí khác 12 nhau. Căn cứ vào phương thức hình thành và các nguyên tắc tổ chức có thể khái quát thành 2 loại hình tổ chức cơ bản sau: Hình thức thứ nhất: Bao gồm những TĐKT được thành lập và tổ chức theo nguyên tắc "kết hợp chặt chẽ trong một tổ chức kinh tế" hay còn gọi là các Tập đoàn "cứng".
Trong các TĐKT dạng này, các công ty thành viên kết hợp trong một tổ chức thống nhất, có mối liên kết chặt chẽ, tính độc lập của các công ty thành viên bị giảm thiểu, chúng phụ thuộc và ràng buộc lẫn nhau trong một thể thống nhất.