CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về việc làm, giải quyết việc làm Việc làm, giải quyết việc làm thường xuyên là vấn đề nóng bỏng, nhận được sự quan tâm của xã hội và các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách. Ở Việt Nam và trên thế giới có rất nhiều công trình và bài viết liên quan, đề cập đến vấn đề việc làm.
Về việc làm nói chung, các nghiên cứu chủ yếu đưa ra các phân tích về thực trạng thất nghiệp, việc làm, thiếu việc làm và đề xuất các giải pháp tạo việc làm cho người lao động. Phương pháp chủ yếu là phân tích số liệu theo thời gian, số liệu mảng của một khu vực hay vùng, từ đó chỉ ra các nguyên nhân, và đưa ra các khuyến nghị. Có thể kể đến một số công trình như: Jokela và cộng sự (2017) so sánh các cách tiếp cận chính sách liên quan đến việc làm trong nước ở các nước giàu và xem xét tác động của chúng đối với việc làm, nghiên cứu này xác định các phương pháp tiếp cận chính sách thường được áp dụng ở các nước giàu để điều chỉnh và phát triển việc làm trong nước là: (1) dịch vụ giá cả phải chăng; (2) đơn giản hóa việc sử dụng; (3) điều chỉnh việc làm; (4) điều chỉnh di cư lao động; Breitkreuz và cộng sự (2017) nghiên cứu về ảnh hưởng của Đạo luật đảm bảo việc làm nông thôn quốc gia Mahatma Gandhi (MGNREGA) được chính phủ Ấn Độ xây dựng để giảm nghèo ở nông thôn thông qua 100 ngày làm việc được đảm bảo mỗi năm. Hu An-gang (2001) đã phân tích thực trạng việc làm của Trung Quốc đưa ra các giải pháp để cải thiện tình hình; Gold và cộng sự (2000) chỉ ra thực trạng thất nghiệp ở Liên minh châu Âu năm 1999, nghiên cứu cũng cho rằng tạo việc làm vẫn là một mối quan tâm chính cho tất cả các đối tác xã hội.
Tuy nhiên, sự phát triển của các hiệp ước việc làm trên tất cả các quốc gia thành viên EU và ở tất cả các cấp vẫn còn chắp vá, phản ánh khi họ thực hiện sự tương tác của các lực lượng phức tạp - kinh tế, thể chế, chính trị và xã hội. Ở Việt Nam một số nghiên cứu đã được thực hiện theo hướng làm thế nào để giải quyết việc làm cho người lao động ở khu vực nông thôn, như nghiên cứu của Đồng Văn Tuấn (2011); Nguyễn Thị Thơm và cộng sự (2012). Các nghiên cứu này đứng từ góc nhìn từ phía Nhà nước, chỉ ra các vấn đề thực trạng còn tồn tại về việc làm, thu nhập cho lao động, lao động nông thôn. Điểm chung của một số nghiên cứu này là việc sử dụng gần như giống nhau về các phương pháp nghiên cứu, chủ yếu là phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh và vận dụng ma trận SWOT trong việc xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của vấn đề nghiên cứu từ đó 8 đề xuất các giải pháp cũng như kiến nghị.
Những nghiên cứu này mang hướng diễn giải những luận cứ cho vấn đề nghiên cứu dựa trên lý thuyết về lao động, việc làm, chính sách giải quyết việc làm để đưa ra kết luận cho vấn đề nghiên cứu. Trong bối cảnh mức độ đô thị hóa, công nghiệp ở mức độ vừa phải, với hệ thống chính sách còn chưa đầy đủ, các nghiên cứu trên đã có những đóng góp nhất định cho Nhà nước, với vai trò điều hành, quản lý và phát triển đất nước. Tuy nhiên, các khuyến nghị để Nhà nước đưa ra các biện pháp, hay chính sách thúc đẩy để người dân tự tạo việc làm còn bỏ ngỏ, giải pháp như vậy sẽ chỉ giải quyết được một khía cạnh của vấn đề việc làm. “Một nghiên cứu khác liên quan đến giải quyết việc làm, cụ thể là việc làm bền vững cho lao động nông thôn, tác giả Triệu Đức Hạnh (2012) dưới góc nhìn phân tích chính sách đã xây dựng được bộ tiêu chuẩn bao gồm 15 tiêu chí đánh giá được sắp xếp tương ứng với 5 yếu tố cấu thành của việc làm bền vững là: các quyền tại nơi làm việc, ổn định việc làm và thu nhập, tạo việc làm và xúc tiến việc làm, bảo trợ xã hội và đối thoại xã hội.
Tuy nhiên, về phương pháp sử dụng trong nghiên cứu chủ yếu là thống kê, mô tả, so sánh đối chiếu nên chưa thật sự có tính đột phá, thêm vào đó cách tiếp cận là từ phía người xây dựng chính sách, tức là từ phía Nhà nước, vẫn là một góc nhìn cũ, không phải góc nhìn từ người chịu tác động của chính sách, những người có nhu cầu làm việc và tự tạo việc làm. Các nghiên cứu về tự tạo việc làm 1. Nghiên cứu vai trò của tự tạo việc làm đối với nền kinh tế Tự tạo việc làm cũng chính là một trong các biện pháp để nhằm giải quyết việc làm và nâng cao tính chủ động của người lao động, vì vậy tự tạo việc làm chắc chắn có tác động tới nền kinh tế. Một số các nghiên cứu được thực hiện theo hướng này như nghiên cứu của Reynolds (1994), Malecki (1997), Audretsch (2004), Sandeep Mohapatra và cộng sự (2007), Saima Bashir và cộng sự (2011)… Các nghiên cứu đã đề cập đến vai trò của tự tạo việc làm với toàn bộ nền kinh tế nói chung và tăng trưởng kinh tế nói riêng.
Malecki (1997), Reynolds (1994), Audretsch (2004) (trích dẫn trong Carree and Thurik (2003)) chỉ ra rằng có mối quan hệ chặt chẽ giữa tự tạo việc làm với tăng trưởng kinh tế vùng và địa phương. Chính vì lẽ đó chính phủ các nước phát triển cũng như đang phát triển đều dành nhiều chính sách hỗ trợ và nỗ lực để thúc đẩy việc khởi sự kinh doanh trong giới trẻ, đặc biệt trong giới sinh viên, khuyến khích họ không đi làm thuê mà hãy tự tạo việc làm, gia tăng số lượng doanh nghiệp cho phát triển kinh tế. 9 Sandeep Mohapatra và cộng sự (2007) đánh giá vai trò của việc tự làm chủ trong nền kinh tế nông thôn Trung Quốc, đồng thời đã chỉ ra sự gia tăng của tự tạo việc làm sẽ thúc đẩy tinh thần kinh doanh và đó là dấu hiệu của sự phát triển. Nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu về lịch sử thị trường lao động trong 20 năm, từ năm 1981 đến 2001, và cung cấp bằng chứng cho thấy đã có sự gia tăng nhanh chóng về tầm quan trọng của hoạt động tự làm chủ trong giai đoạn này.
Tự làm chủ, tự tạo việc làm (Self-employment) đã tăng nhanh trong suốt những năm 1980 và những năm 1990, một giai đoạn đặc trưng bởi những thay đổi đáng kể trong nền kinh tế vĩ mô của Trung Quốc. Saima Bashir và cộng sự (2011) đề cao vai trò của tự tạo việc làm với sự phát triển kinh tế của khu vực nông thôn vùng Tây Bắc nước Mỹ. Nghiên cứu này tập trung vào vai trò của việc tự làm chủ trong phát triển kinh tế bằng cách phân tích mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa tăng trưởng mật độ dân số, việc làm, thu nhập bình quân đầu người, và tự làm chủ. Sử dụng các kỹ thuật kinh tế lượng, phân tích phát hiện ra một hệ thống các mối quan hệ giữa các yếu tố nội sinh bằng cách sử dụng đồng thời bốn phương trình mô hình tăng trưởng khu vực, xuất phát từ mô hình tăng trưởng của Deller và cộng sự, (2001).
Cụ thể mục tiêu là xác định và ước tính tác động của việc tự làm chủ trong nền kinh tế. Kết quả đã cho thấy tự tạo việc làm như một cơ hội để nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy phát triển kinh tế vùng Tây Bắc nước Mỹ. Cùng kết luận về tác động của tự tạo việc làm với phát triển kinh tế, Blanchflower (2000) và Parker (2005) cho rằng: “Tự tạo việc làm giúp tạo ra nhiều các công ty mới, tạo ra nhiều việc làm mới, thúc đẩy các phát minh và sự đổi mới, cuối cùng mang lại sự thịnh vượng cho xã hội”. Như vậy, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa tự tạo việc làm với phát triển kinh tế.
Vì vậy để tăng trưởng và phát triển kinh tế cần phải thúc đẩy hoạt động tự tạo việc làm. Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới tự tạo việc làm Trong những thập kỷ gần đây, tự tạo việc làm được coi là một vấn đề trung tâm của thị trường lao động. Trên thực tế, tự tạo việc làm (tự làm chủ) không chỉ là một giải pháp cho những cá nhân có ít cơ hội trong lĩnh vực làm công ăn lương hoặc kiếm được ít tiền lương hơn những người khác mà còn là cơ hội cho những cá nhân năng động hơn tìm kiếm, xây dựng con đường sự nghiệp của riêng mình (Nadia và cộng sự, 2013). Việc nghiên cứu tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tới tự tạo việc làm ở góc độ ý định, hay đã tự tạo việc làm hoặc khả năng tự tạo việc làm cũng thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới.
Kể đến như các nghiên cứu 10 của Borjas (1986), Van Praag and Van Ophem (1995), Clark (1997), Ekelund và cộng sự (2005), Zissimopoulos và Karoly (2007), Colombier và cộng sự (2008), Leoni và Falk (2010), Muhammad và cộng sự (2011), Brown và cộng sự (2011), Ngô Quỳnh An (2012), Solinge (2012), Beihl và cộng sự (2013), Nadia và cộng sự (2013), Cahill và cộng sự (2013), IshaqueMahama and Motin Bashiru (2014), Hồ Thị Diệu Ánh (2015), Fisher và cộng sự (2018),… * Nghiên cứu về ý định tự tạo việc làm Chung-Min Lo và Jun-ren Wang (2007) sử dụng mô hình hồi quy phân cấp. Trong đó sử dụng lý thuyết khởi sự của Shapero (1984) để thảo luận ý định khởi nghiệp của các doanh nhân có kinh nghiệm kinh doanh trong một môi trường không chắc chắn, trong đó biến nghiên cứu “Ý định kinh doanh” lại được đo bằng cách sử dụng thang đo được phát triển bởi Krueger (1993), các doanh nhân được yêu cầu trả lời các câu hỏi bằng cách nhớ lại: “Ông/bà có thực sự muốn xây dựng doanh nghiệp của riêng mình trước khi bắt đầu kinh doanh hiện tại không?. Như vậy, ngoài cách đo lường ý định tự tạo việc làm/khởi sự kinh doanh bằng các biến likert khá phổ biến, thì nghiên cứu này đã sử dụng thang đo nhị phân (0,1) để đo lường ý định tự làm của các cá nhân. Kết luận từ mô hình cho thấy trong một thị trường thiếu ổn định, nếu các doanh nhân nhận thấy tính khả thi, họ vẫn có ý định đầu tư vào kinh doanh.