Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN 1. Cơ sở lý luận liên quan đến tạo việc làm cho thanh niên nông thôn 1. Những khái niệm cơ bản liên quan đến tạo việc làm cho thanh niên nông thôn * Khái niệm thanh niên nông thôn Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, là nguồn thúc đẩy sự phát triển xã hội hiện tại và là người chủ tương lai của đất nước. Khái niệm Thanh niên được sử dụng thường xuyên rộng rãi hàng ngày cũng như trong các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn.
(Dương Tự Đam, 2005) Theo Luật Thanh niên năm 2020 quy định: Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi. Thanh niên là khái niệm dùng để chi một nhóm nhân khẩu - xã hội với một độ tuổi xác định, với những tâm sinh lý đặc thù và có một vai trò quan trọng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. (Quốc Hội, 2020) Thanh niên là lứa tuổi đã trưởng thành, có đầy đủ tố chất của người lớn, là thời kỳ dồi dào về trí lực và thể lực, do đó thanh niên có đầy đủ những điều kiện cần thiết để tham gia hoạt động học lập, lao động, hoạt động chính trị - xã hội đạt hiệu quả cao, có khả năng đóng góp cống hiến thể lực và trí lực cho công cuộc đổi mới đất nước. (Dương Tự Đam, 2005) Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Thanh niên: “Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc: Dân tộc bị nô lệ thì Thanh niên cũng bị nô lệ.
Dân tộc được giải phóng, Thanh niên mới được tự do. Vì vậy Thanh niên phải hăng hái tham gia cuộc đấu tranh của dân tộc”.Gắn Thanh niên với vận mệnh của dân tộc, Hồ Chủ Tịch, trong nhiều bài nói và bài viết của mình đã luận giải một cách giản dị, thuyết phục rằng: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một 5 phần lớn là do các Thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc chuẩn bị cho cái tương lai đó”.
(Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006) Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII về công tác Thanh niên trong thời kỳ mới đã khẳng định: “Thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ ngía hay không, phần lớn tùy thuộc và lực lượng Thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác Thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”. (Ban chấp hành TW Đảng, 1993) Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm truyền thống, tuổi thọ bình quân v. mà mỗi quốc gia có quy định độ tuổi thanh niên khác nhau.
Nhưng hầu hết các nước trên thế giới đều thống nhất tuổi thanh niên bắt đầu từ 15 hoặc 16. Còn thanh niên kết thúc ở tuổi nào thì có sự khác biệt. Có nước quy định là 25 tuổi, có nước quy định là 30 tuổi và cũng có nước cho đó là tuổi 40. Nhưng xu hướng chung là nâng dần giới hạn kết thúc của tuổi thanh niên.
Thanh niên nông thôn gồm những thanh niên sinh ra, lớn lên và sinh sống chủ yếu ở nông thôn, trong độ tuổi lao động từ 16 - 30, có khả năng làm việc, đang làm việc hoặc chưa có việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm. Lực lượng lao động thanh niên không bao gồm những học sinh, sinh viên, những người trong độ tuổi 16-30 đang đi học không có mong muốn, nhu cầu tìm kiếm việc làm, những thanh niên làm nội trợ trong gia đình và những thanh niên không có khả năng làm việc. (Quốc Hội, 2020) Như vậy, để nhìn nhận đánh giá thanh niên nông thôn một cách tương đối toàn diện, có thể bao hàm được các nội dung, ý nghĩa nêu trên có thể 6 khái quát: “Thanh niên nông thôn được hiểu là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù sinh sống và làm việc trên địa bàn nông thôn, có độ tuổi từ 15, 16 tuổi đến trên dưới 30 tuổi, gắn với mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội và có mặt trên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội”. Thanh niên nông thôn có trình độ văn hoá và chuyên môn thấp hơn so với thanh niên thành thị.
Tỷ lệ thanh niên nông thôn đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp. Lao động nông thôn nói chung mà đặc biệt là thanh niên nói riêng chủ yếu học nghề thông qua việc hướng dẫn của thế hệ trước hoặc tự truyền cho nhau nên lao động theo truyền thống và thói quen là chính. Điều đó làm cho thanh niên nông thôn có tính bảo thủ nhất định, tạo ra sự khó khăn cho việc thay đổi phương hướng sản xuất và thực hiện phân công lao động, hạn chế sự phát triển kinh tế nông thôn. Thanh niên nông thôn lao động mang tính thời vụ rõ rệt, đặc biệt là các vùng nông thôn thuần nông.
Do vậy, việc sử dụng lực lượng này trong lao động ở nông thôn kém hiệu quả, hiện tượng thiếu việc làm là phổ biến. Thanh niên nông thôn có khả năng tiếp cận và tự tìm việc làm cho mình kém, thiếu khả năng nắm bắt và xử lý thông tin thị trường lao động, khả năng hạch toán hạn chế. Thanh niên nông thôn có những đặc điểm sau: thanh niên nông thôn chiếm tỷ lệ cao trong thanh niên cả nước, là nguồn nhân lực phát triển và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Là lực lượng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, tích cực tham gia và phát huy tốt ý thức chính trị, ý chí tự lực tự cường, khát vọng vươn lên thoát nghèo và làm giàu.
(Nguyễn Tiến Dũng và cộng sự, 2014) * Tạo việc làm cho thanh niên nông thôn “Việc làm” là một thuật ngữ được sử dụng nhiều trong học thuật và cả trong đời sống hằng ngày. Đứng ở mỗi góc độ khác nhau, sẽ có những cách nhìn nhận khác nhau về việc làm. Cụ thể: 7 Theo quan điểm của Các Mác: Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, kỹ thuật, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó. (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006) Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khái niệm việc làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với lực lượng lao động.
Khi đó, việc làm được phân thành hai loại: Có trả công (những người làm thuê, học việc.) và không được trả công nhưng vẫn có thu nhập (những người như giới chủ làm kinh tế gia đình. (Nguyễn Quang Hiển, 2009) Theo Luật lao động năm 2012: Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm. Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội. Theo Luật việc làm 2013: Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm.
Như vậy có thể hiểu “Việc làm là hoạt động nghề nghiệp, có thu nhập từ hoạt động đó để nuôi sống bản thân và gia đình mà không bị pháp luật ngăn cấm”. Tạo việc làm cho người lao động nói chung và thanh niên nông thôn nói riêng là các hoạt động đưa người lao động vào làm việc để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường. (Nguyễn Khánh Bình, 2018) Quá trình kết hợp sức lao động và điều kiện để sản xuất là quá trình người lao động làm việc. Người lao động làm việc không chỉ tạo ra thu nhập cho riêng họ mà còn tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội.
Vì vậy, tạo việc làm không chỉ là nhu cầu chủ quan của người lao động mà còn là yếu tố khách quan của xã hội. Số lao động được tạo việc làm phản ánh số lao động có việc làm tăng thêm trong năm, là chênh lệch giữa số lao động có việc làm ở kỳ báo cáo và số lao động có việc làm của kỳ trước. Đặc điểm của tạo việc làm thanh niên nông thôn * Hiện trạng thanh niên nông thôn Hiện trạng thanh niên nói ch ung và thanh niên nông thôn nói riêng được quy định cụ thể tại Thông tư số 11/2018/TT-BNV ban hành Bộ chỉ tiêu thống kê về thanh niên Việt Nam. Với một số nội dung cụ thể như sau: - Số lượng lao động thanh niên nông thôn Số lượng lao động thanh niên là những người trong độ tuổi thanh niên có việc làm (đang làm việc) hoặc thất nghiệp trong thời kỳ tham chiếu (7 ngày trước thời điểm quan sát).
- Số lượng lao động thanh niên theo tình trạng việc làm Số lượng lao động thanh niên có việc làm (đang làm việc) trong nền kinh tế là những người trong độ tuổi thanh niên mà trong thời kỳ tham chiếu có làm bất cứ việc gì (không bị pháp luật cấm) từ 01 giờ trở lên để tạo ra các sản phẩm hàng hóa hoặc cung cấp các dịch vụ nhằm mục đích tạo thu nhập cho bản thân và gia đình. Thanh niên có việc làm gồm cả những người không làm việc trong tuần nghiên cứu nhưng đang có một công việc và vẫn gắn bó chặt chẽ với công việc đó (vẫn được trả lương/công trong thời gian không làm việc hoặc chắc chắn sẽ quay trở lại làm sau thời gian không quá 01 tháng).