Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 1. Việc làm Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các yếu tố của quá trình kinh tế xã hội, nhân khẩu, chất lượng lao động. Việc làm là một nhân tố chủ yếu nhất của toàn bộ đời sống xã hội. Chính vì vậy, cho đến nay đã thu hút sự quan tâm của không ít những nhà khoa học với nhiều cách hiểu khác nhau về việc làm, do đó cũng tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về việc làm.
Trước đây đã có nhiều quan niệm cho rằng, việc làm phải là những công việc yêu cầu một chuyên môn nào đó và tạo ra một thu nhập nhất định. Người có việc làm phải thuộc biên chế nhà nước hoặc làm việc trong khu vực kinh tế quốc doanh. Với cách hiểu ở trạng thái tĩnh như vậy đã không bao hàm hết được tất cả những hoạt động khác có thể tạo ra thu nhập cho bản thân, gia đình người lao động và xã hội mà không bị pháp luật cấm. Do đó, cũng tạo ra sự phân biệt đối xử về lao động giữa các thành phần kinh tế, không huy động được tối đa các nguồn lực lao động cho sự phát triển, đồng thời cách hiểu đó cũng giới hạn phạm vi giải quyết việc làm chỉ là trách nhiệm của Nhà nước.
Nếu hiểu theo trạng thái động, trong giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế quốc dân (2008) thì khái niệm việc làm được hiểu là “phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó” [2, tr. Trạng thái phù hợp đó được thể hiện qua công thức: ∑VL = C/V Luan van 6 Trong đó: C là chi phí ban đầu như nhà xưởng, máy móc, trang thiết bị, nguyên vật liệu… V là chi phí về sức lao động Quan hệ tỷ lệ biểu hiện sự kết hợp giữa C và V phải phù hợp với trình độ công nghệ sản xuất. Khi trình độ công nghệ thay đổi, như theo hướng công nghệ sử dụng nhiều vốn hoặc theo hướng công nghệ sử dụng nhiều sức lao động, thì sự kết hợp giữa C và V cũng thay đổi theo. Ví dụ, trong điều kiện kỹ thuật thủ công, với một đơn vị chi phí ban đầu về tư liệu sản xuất, về vốn đòi hỏi kết hợp với nhiều đơn vị sức lao động (công nghệ sử dụng nhiều lao động).
Ngược lại, trong điều kiện tự động hóa, chi phí về vốn, công nghệ, thiết bị rất cao nhưng chỉ đòi hỏi một tỷ lệ thấp sức lao động (công nghệ sử dụng nhiều vốn). Trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển như hiện nay, việc ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào thực tiễn sản xuất ngày càng phổ biến và mạnh mẽ, thì quan hệ tỷ lệ giữa C và V thường xuyên biến đổi. Từ công thức nêu trên ta có, nếu tỷ lệ C/V = 1 cho thấy sự phù hợp giữa chi phí ban đầu và sức lao động, nghĩa là mọi người có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc đều có việc làm. Nếu tỷ lệ C/V <1 cho thấy sự không phù hợp giữa chi phí ban đầu và sức lao động, lúc này là sử dụng sức lao động không hết khả năng hay lãng phí sức lao động, gây ra thiếu việc làm hoặc thất nghiệp.
Trạng thái phù hợp này thể hiện ở cả mặt số lượng và chất lượng. Vì vậy, tạo việc làm là một quá trình tạo ra tư liệu sản xuất (số lượng và chất lượng), sức lao động (số lượng và chất lượng) và các điều kiện kinh tế xã hội khác. Quan điểm này tuy có mặt tích cực là khái quát được bản chất của việc làm nhưng nó dễ làm người ta lẫn lộn, nhầm lẫn giữa việc làm hợp pháp và không hợp pháp, nhất là trong bối cảnh nước ta hiện nay đang xuất hiện nhiều Luan van 7 hoạt động có ích cho cá nhân nào đó nhưng lại gây nguy hại cho xã hội, không được xã hội thừa nhận đã trở nên bức bách. Theo tác giả Đặng Xuân Thao thì “việc làm là một dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật cấm, có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thêm thu nhập cho người thân, gia đình hoặc cộng đồng” [9, tr.
Quan niệm này hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay, một mặt, nó mở rộng phạm vi quan niệm việc làm, tránh được tình trạng phân biệt đối xử về lao động, kích thích khơi dậy và động viên được nguồn nhân lực cho phát triển, mặt khác nó giới hạn được những hoạt động có hại cho cộng đồng, xã hội. Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về việc làm nhưng tựu chung các tác giả đều thống nhất rằng việc làm là một dạng hoạt động kinh tế - xã hội phải có đầy đủ các đặc trưng sau đây: Thứ nhất, việc làm là hoạt động có mục đích của con người; Thứ hai, hoạt động đó tuân thủ theo pháp luật; Thứ ba, hoạt động đó mang lại thu nhập hoặc tạo điều kiện cho người lao động tham gia để tạo thu nhập hoặc giảm chi phí cho gia đình và cộng đồng. Những đặc trưng trên đây cũng là nội dung cốt lõi bao quát được bản chất của việc làm được thống nhất và cụ thể hóa trong khái niệm việc làm của Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX thông qua tại Khoản 1, Điều 13, Chương II như sau: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [5, tr. Khái niệm trên rất phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của nước ta hiện nay, nó cho thấy sự đổi mới sâu sắc trong nhận thức về vấn đề việc làm và giải quyết việc làm.
Từ chỗ quan niệm cho rằng, giải quyết việc làm là trách nhiệm của Nhà nước và chỉ có biên chế làm việc trong cơ quan Nhà nước mới được coi là việc làm, nay đã chuyển sang nhận thức mới, mọi hoạt động tạo ra Luan van 8 thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm và giải quyết việc làm không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của bản thân người lao động và toàn xã hội. Quan niệm về việc làm này đã được mở rộng, tạo ra nhiều khả năng cho việc giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho nhiều người và huy động tối đa mọi nguồn lực cho phát triển. Phân loại việc làm Có nhiều cách nhìn nhận và phân loại việc làm, nhưng cơ bản là đứng trên góc độ chủ thể hoạt động của việc làm là n g ư ờ i lao động. Những hoạt động của người lao động thể hiện hình thức, tính chất, đặc điểm, yêu cầu và cả xu hướng của việc làm.
Việc làm vì thế có thể phân loại theo chủ thể hoạt động lao động là người lao động và chủ thể tạo việc làm trong nền kinh tế. Theo hoạt động của mỗi cá thể người lao động việc làm có thể chia ra thành: việc làm chính, việc làm phụ. Việc làm chính là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất so với công việc khác. Việc làm phụ là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất sau công việc chính.
Trong trường hợp việc làm chính và phụ có thời gian bằng nhau thì việc làm nào có thu nhập cao hơn được xem là việc làm chính. Xét về tính chất việc làm, việc làm có thể mang tính chất ổn định hay tạm thời. Việc làm ổn định trong một năm đối với người lao động có thời gian làm việc từ 6 tháng trở lên. Việc làm tạm thời là những công việc dưới 6 tháng.
Các nền kinh tế khác nhau có hình thức tổ chức khác nhau, nhưng thông thường phân theo các tổ chức thuộc khu vực nhà nước, khu vực doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, khu vực các tổ chức cộng đồng và khu vực có yếu tố nước ngoài. Theo phân loại của cuộc điều tra thực trạng việc làm và thất nghiệp hàng năm của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội phân ra, việc làm trong các khu vực như sau [1, tr.27]: Luan van 9 - Khu vực hành chính: cơ quan tổ chức hành chính nhà nước (các cấp bộ, ban, ngành ở trung ương, tỉnh, huyện, xã…); - Khu vực sự nghiệp: các đơn vị sự nghiệp (Giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin, truyền hình, thể thao v.) gồm cả công lập, bán công, tư thục và dân lập; - Khu vực cộng đồng: các cơ quan đảng, đoàn, tổ chức chính trị, các hiệp hội; - Khu vực sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp trong nước: các doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân; - Khu vực hợp tác xã: hiện đang hoạt động theo luật hợp tác xã; - Khu vực kinh tế hộ: kinh tế cá thể, hộ gia đình; - Khu vực có yếu tố nước ngoài: việc làm trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và trong các cơ quan, tổ chức và cá nhân nước ngoài khác. Tạo việc làm và nội dung tạo việc làm 1. Tạo việc làm Tạo việc làm là “quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất, số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động” [2, tr.
Tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu thị trường. Thực chất của tạo việc làm cho người lao động là tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất gồm cả về chất lượng và cả số lượng. Môi trường cho sự kết hợp giữa các yếu tố này là hết sức quan trọng, nó bao gồm các chính sách, điều kiện khuyến khích người lao động cũng như người sử dụng lao động trong công việc. Thị trường lao động chỉ có thể được Luan van 10 hình thành khi người lao động với người sử dụng lao động gặp gỡ trao đổi đi đến nhất trí vấn đề sử dụng sức lao động, do vậy vấn để tạo việc làm phải được nhìn nhận ở cả người lao động và người sử dụng lao động đồng thời không thể không thể kể đến vai trò của Nhà nước.