CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu đề tài Trong quá trình nghiên cứu luận văn của mình tác giả có tìm hiểu các tài liệu: * Trong nước - Tác giả Mai Thu Hằng, 2013, với đề tài: “Tạo động lực lao động tại Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật”. Nội dung đề tài đã hệ thống hóa các lý luận về lao động quản lý, hệ thống và đề xuất quan điểm về tạo động lực cho lao động quản lý, lựa chọn mô hình tổng thể để chỉ ra cách tiếp cận với tạo động lực cho người lao động quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước. Tác giả phân tích về nhu cầu, sự thỏa mãn, cách phát triển nhu cầu mới nhằm tăng động lực trong lao động cho lao động quản lý trong doanh nghiệp nhà nước ở Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật.
Đồng thời chỉ ra những ưu nhược điểm của các biện pháp tạo động lực đang được áp dụng trong các doanh nghiệp này và các nguyên nhân tồn tại ảnh hưởng đến động lực lao động trong quản lý. - Với đề tài nghiên cứu: “Đánh giá hiệu quả công tác tạo động lực cho cán bộ công nhân viên ở chi nhánh Ngân hàng TMCP Công thương Tp Hà Nội” của tác giả Đoàn Công Danh,2012. Tác giả đã tập trung phân tích sâu cơ sở lý luận tạo động lực và qua phân tích thực tế tại ngân hàng TMCP Công thương Tp Hà Nội, tác giả nhận thấy rằng việc tạo động lực người lao động là vô cùng cần thiết. Tạo động lực là chìa khóa để cải thiện kết quả làm việc.
Con người chỉ làm việc khi người ta muốn hoặc có động lực để làm việc. Cho dù là cố gắng tỏ ra nổi trội trong công việc hay thu mình trong tháp ngà, người ta cũng chỉ hành động do bị điều khiển hoặc từ chính bản thân hoặc từ 5 z các nhân tố bên ngoài. Tạo động lực người lao động là cần thiết và không thể thiếu nếu doanh nghiệp muốn tồn tại và thành công. - Bài viết của tác giả Hoàng Thị Hồng Lộc và Nguyễn Quốc Nghi, 2014, Tạp chí khoa học Trường ĐH Cần Thơ (số 32).
“ Xây dựng lý thuyết về động lực ở khu vực công tại Việt Nam”. Bài viết này được thực hiện nhằm xây dựng một khung lý thuyết phục vụ cho mục đích khám phá các nhân tố chính ảnh hưởng đến động lực của nhân viên tại khu vực công tại Việt Nam. Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích – tổng hợp nhằm kế thừa những phát hiện giá trị từ những công trình nghiên cứu trước của cộng đồng khoa học trong và ngoài nước. Khung lý thuyết tác giả đề xuất dựa trên mô hình tháp Maslow (1943) và mô hình tháp nhu cầu của người Trung Quốc do Nevis đề xuất năm 1983, nhưng đã có sự điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu là người Việt Nam.
Đồng thời nghiên cứu này còn thể hiện sự cân nhắc kỹ lưỡng đến sự đặc trưng của một nền văn hóa tập thể và bối cảnh kinh tế - xã hội nước ta hiện nay. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình tác giả đề xuất gồm 5 bậc nhu cầu theo trật tự từ thấp tới cao như sau : nhu cầu xã hội – nhu cầu sinh học – nhu cầu an toàn – nhu cầu được tôn trọng – nhu cầu thể hiện. 5 bậc nhu cầu có thể xem như 5 nhóm biến trong mô hình kinh tế lượng và được đo lường thông qua 26 thành phần. Mô hình lý thuyết này có giá trị áp dụng với các tổ chức trong khu vực công tại Việt Nam.
* Ngoài nước Tác giả Leroy Eims, 2014. “Hãy là nhà lãnh đạo biết truyền động lực ”. Nội dung của cuốn sách cho thấy sự cần thiết của việc song hành giữa rèn luyện cá nhân và rèn luyện tập thể, đó là con đường duy nhất và hoàn hảo nhất để dẫn tới thành công. Cuốn sách bày tỏ rõ ràng những điểm cốt yếu tao nên một người lãnh đạo chuẩn mực cũng như phân định một cách cụ thể phương thức dẫn dắt, truyền cảm hứng cho người khác.
6 z Tác giả Roberta Chinsky Matuson, 2015. “Thu hút và giữ chân nhân tài”Trong đời sống kinh doanh có đủ mọi hoạt động: tài chính, tiếp thi, quản trị, nghiên cứu. và lĩnh vực nào cũng cần những con người tài năng để tạo động lực cho chúng vận hành thông suốt.Cuốn sách chia sẻ những giải pháp tối ưu để việc thu hút nhân tài sẽ giúp nhà quản tri luôn ở hàng đầu trong mọi cuộc chơi. Tóm lại, xét một cách tổng thể đã có nhiều nghiên cứu, tạp chí khẳng định ý nghĩa và tầm quan trọng trong việc tạo động lực người lao động trong việc sự phát triển của doanh nghiệp, tổ chức.
Từ những tài liệu trên, tham khảo các tài liệu khác và kế thừa những thành tựu nghiên cứu đã đạt được để tác giả nghiên cứu phân tích về tạo động lực người lao động tại ngân hàng TMCP Quốc Dân - chi nhánh Đà Nẵng 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về tạo động lực 1. Khái niệm "Năng suất làm việc = năng lực + động lực". Theo ý kiến của các chuyên gia Trung tâm đào tạo INPRO và những người làm Nghề nhân sự thì đối với nguồn nhân lực tại Việt Nam, tỷ lệ trong phép toán này luôn là: động lực lớn hơn năng lực.Điều đó cũng có nghĩa việc quản lý và đánh giá nhân viên cần dựa trên cơ sở chú trọng vào động lực - thỏa mãn yếu tố tinh thần của nhân viên bên cạnh thỏa mãn nhu cầu của doanh nghiệp.
Vậy động lực và động lực lao động được hiểu như thế nào?"Động lực là động cơ mạnh,thúc đẩy con người hoạt động một cách tích cực có năng suất,chất lượng,hiệu quả,khả năng thích nghi cao,sáng tạo cao nhất với tiềm năng của họ " Động lực do vậy là một trạng thái bên trong để tiếp sinh lực, chuyển đổi, và duy trì hành vi con người để đạt được các mục tiêu. Động lực lao động gắn với các thái độ chuyển hành vi của con người hướng vào công việc và ra khỏi 7 z trạng thái nghỉ ngơi giải trí hoặc các lĩnh vực khác của cuộc sống. Động lực lao động có thể thay đổi giống như những hoạt động khác trong cuộc sống thay đổi.Hay nói cách khác,"Động lực lao động chính là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức".TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền (Khoa Khoa học Quản lý- ĐH KTQD HN)-Bài giảng môn Quản Lý Tổ Chức Công , TS Nguyễn Vân Điềm - Giáo trình Quản trị nhân sự - NXB LĐXH,năm 2006 1. Mục đích và vai trò của việc tạo động lực * Mục đích: Mục đích của việc tạo động lực lao động là góp phần giúp nâng cao hiêu quả công việc cho người lao động.Các biện pháp tạo động lực lao động giúp kích thích khả năng làm việc của nhân viên,cũng như phát huy tối đa năng suất làm việc của họ.Và hướng tới một mục đích cuối cùng là hoàn thành công việc được giao một cách tốt nhất góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn mà tổ chức đã đề ra.
* Vai trò: Động viên là chìa khoá để cải thiện kết quả làm việc ."Bạn có thể đưa con ngựa ra tới tận bờ sông nhưng không thể bắt nó uống nước. Ngựa chỉ uống khi nó khát- và con người cũng vậy". Con người chỉ làm việc khi người ta muốn hoặc được động viên để làm việc. Cho dù là cố gắng tỏ ra nổi trội trong công việc hay thu mình trong tháp ngà, người ta cũng chỉ hành động do bị điều khiển hoặc được động viên bởi chính bản thân hay từ các nhân tố bên ngoài.
Động viên là kỹ năng có và cần phải học và không thể thiếu của người quản lý nếu doanh nghiệp muốn tồn tại và thành công.Kết quả của công việc có thể được xem như một hàm số của năng lực và động lực. Năng lực làm việc phụ thuộc vào các yếu tố như giáo dục, kinh nghiệm, kỹ năng được huấn luyện. Cải thiện năng lực làm việc thường diễn ra chậm sau một quãng thời 8 z gian đủ dài. Ngược lại, động lực có thể cải thiện rất nhanh chóng.
Bởi các tác động của nó tới thái độ và hành vi của người lao động một cách rõ nét như sau: - Giúp người lao động làm việc hăng say hơn,có ý thức trách nhiệm hơn với công việc và tất nhiên điều đó sẽ kéo theo hiệu quả công việc cũng được nâng cao. - Người lao động gắn bó hơn với tổ chức,coi đó như gia đình thứ hai của họ,như vậy sẽ khiến người lao động có ý thức trung thành với tổ chức.2 Tạo động lực 1.1 Lý thuyết chung về tạo động lực - Nhu cầu và động cơ làm việc của con người: Nhu cầu: "Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn không thoả mãn về một cái gì đó và mong được đáp ứng nó". Nhu cầu gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người cũng như cộng đồng và tập thể xã hội.Hệ thống nhu cầu rất phong phú và đa dạng,gồm có nhiều loại nhu cầu: - Nhu cầu sinh lý : các nhu cầu thiết yếu và thông thường nhất như ăn,mặc,ở,nghỉ ngơi - Nhu cầu về lao động,về an ninh,tình cảm. - Nhu cầu được kính trọng (quyền lực,địa vị xã hội ,uy tín,mức ảnh hưởng tới xã hội,sự giàu có.
- Nhu cầu thẩm mĩ ( cái đẹp,cái tốt,cái thiện .) -Nhu cầu tự hoàn thiện (tự do,trách nhiệm,sự phát triển .) - Nhu cầu về giao tiếp ( các quan hệ xã hội,giao lưu học hỏi .) - Nhu cầu về tái sản xuất xã hội ( sinh đẻ và nuôi dạy con cái,truyền thống .) - Nhu cầu tự phủ định ( các ham muốn,đòi hỏi có tính nguy hại đến bản thân,cộng đồng,tập thể và xã hội .) 9 z - Nhu cầu về sự biến đổi ( các xáo trộn xã hội theo hướng tiến bộ)Như vậy,hệ thống nhu cầu của con người hết sức phức tạp,song cơ bản nó được chia thành 3 nhóm nhu cầu chính là: Nhu cầu vật chất - Nhu cầu tinh thần - Nhu cầu xã hội. Nhu cầu của con người luôn luôn biến đổi,với mỗi người cụ thể khác nhau trong xã hội,việc thực hiện các nhu cầu cũng rất khác nhau tuỳ theo quan điểm của từng cá nhân.Nhưng nhìn chung,để thoả mãn tất cả các nhu cầu là hết sức khó khăn,c có thể thoả mãn một hoặc một số nhu cầu nào đó trong từng giai đoạn khác nhau của cuộc đời 1.