CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.Téng quan tình hình nghiên cứu Tạo động lực trong lao động là phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả làm việc của người lao động. Các nhà nghiên cứu và quản lý đã nhận thấy răng việc tạo động lực này đóng vai trò chính yếu trong việc nâng cao năng suất lao động và là điều mà các nhà quản lý phải luôn quan tâm.Tạo động lực chính là chìa khóa giúp cho sự thành công của doanh nghiệp. Qua tìm hiểu thực tế và tra cứu trên mạng Internet, tác giả đã tìm thay một số kết quả nghiên cứu liên quan đến công tác động lực cho người lao động như sau: Đề tài luận văn cao học đề cập đến công tác tạo động lực cho lao động: Luận văn Thạc sĩ quản trị kinh doanh, Học viện Công nghệ bưu chính viễn thong; Nguyễn Trung Hiếu (2012). Tạo động lực cho người lao động tại Công ty cô phần Đầu tư Đô thị và khu công nghiệp sông Đà 7; Luận văn Thạc sĩ quản trị kinh doanh, Học viện Công nghệ bưu chính viễn thông; Đỗ Văn Cảnh (2013) công tác tạo động lực cho người lao động tại Công ty cô phần Luật Việt; luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Thu (2006) “Hoàn thiện công tác tạo động lực ở Công ty TNHH Cửa số nhựa Châu Âu (EUROWINDOW CO, LTD)”; luận văn thạc sĩ của tác giả Pham Thị Thu Hiền (2011) “Biện pháp tạo động lực cho người lao động tại Công ty LG Electronics Việt Nam”.
Các đề tài đều đã đề cập đến cơ sở lý luận về động lực cho người lao động và chính sách tạo động lực, qua đó đánh giá thực trạng công tác này tại các công ty. Các tác giả cũng đã đề xuất một số giải pháp nhan hoàn thiện chính sách tạo động lực, các giải pháp tạo động lực cho lao động nói chung. Tuy nhiên, các đề tài và các giải pháp đề cập đến trong các luận văn được nêu chủ yếu chỉ phù hợp với lao động chất lượng cao ở các công ty nói trên. Ngoài ra vấn đề tạo động lực cho người lao động cũng được sự quan tâm của rất nhiều chuyên gia về nhân sự và các nhà nghiên cứu.
Trong bài phát biểu của Tổng giám đốc Vietnamwork: Tạo động lực thúc đây nhân viên, ông Chris Harvey đã đặt ra câu hỏi răng: “Tại sao có những người sẵn sàng leo lên đỉnh núi, chấp nhận những khó khăn để chinh phục thử thách trong khi có những người lại chỉ ngồi yên một chỗ?”. Như vậy để phát triển, thúc đây nhân viên nỗ lực làm việc và sáng tạo là vấn đề quan trọng, cần thiết của các nhà quản lý để nâng cao chất lượng làm việc. Từ những nội dung đã đề cập ở trên, chúng ta nhận thấy rang, van dé tạo động trong lao động được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, công tác tạo động lực cho nhân viên khối kinh doanh vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, cụ thể, xem xét các van đề chung và những nội dung đặc thù riêng dé từ đó đề ra các giải pháp tăng cường tạo động lực cho nhân viên khối kinh doanh đáp ứng các yêu cầu phát triển, cạnh tranh, nâng cao chất lượng.
giữ vững vai trò chủ lực, chủ đạo trên thị trường. Cơ sở lý luận về tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp 1. Khái quát về tạo động lực cho người lao động 1. Khái niệm và bản chất của động lực > Khái niệm động lực lao động: Nguồn nhân lực của tô chức là nhân tố quyết định nên sự thành bại trong kinh doanh của tô chức.
Vấn đề tạo động lực cho người lao động là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản trị nhân lực của doanh nghiệp thúc đây người lao động hăng say làm việc, nâng cao năng suất lao động. Khi quan sát người lao động làm việc, người ta dé dàng nhận thấy có những cá nhân làm việc rất tích cực, bên cạnh đó cũng có những cá nhân làm việc không tích cực, mang tính chất đối phó. Vì sao lại có tình trạng như vậy ? Khi đó câu trả lời là do động lực lao động, do nhu cầu của mỗi người lao động là khác nhau. Khi mà người lao động có động lực lao động cao, nhu cầu của họ được thỏa mãn, họ sẽ luôn cố gang, hăng say làm việc dé đạt được những kết quả cao hơn nữa.
Từ đó dẫn đến năng suất và hiệu quả lao động cao. Ngược lại, khi người lao động không có hoặc có ít động cơ lực lao động, nhu cầu của họ trong quá trình làm việc không được đáp ứng, năng suất lao động của họ sẽ rất kém và hiệu quả công việc sẽ không cao, ảnh hưởng rất lớn tới kết quả lao động của toàn bộ tổ chức. Do vậy động lực lao động là chủ đề được bàn luận rất nhiều trong hoạt động nghiên cứu và thực tiễn của doanh nghiệp. Có rất nhiều định nghĩa về động lực lao động.
Từ điển kinh tế xã hội Việt Nam định nghĩa: “Động lực lao động là nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực lao động trong những điều kiện thuận lợi dé tạo ra kết quả cao”. Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2007) trong giáo trình Quản trị nhân sự đã định nghĩa: “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức”. Theo quan niệm này, động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức. Động lực của cá nhân là kết quả của nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và trong môi trường sống và làm việc của họ.
Bởi vậy nên hành vi có động lực là tổng hợp của sự kết hợp tác động của nhiều yếu tố như văn hóa tổ chức, kiểu lãnh đạo, cấu trúc của tô chức, các chính sách nhân lực và các cách thức triển khai những chính sách đó của tô chức. Như vậy, động lực lao động được thể hiện thông qua những công việc cụ thé mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ trong công việc đối với tô chức. Động lực lao động được gan liền với một công việc, một tô chức và một môi trường làm việc cụ thê. Động lực lao động không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân, nó có thé thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc.
Tại thời điểm này người lao động có thé có động lực làm việc rất cao nhưng vào một thời điểm khác động lực lao động chưa chắc đã còn ở họ. Động lực lao động mang tính tự nguyện và phụ thuộc chính vào bản thân người lao động. Người lao động thường chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc và họ cảm thay những gì họ được nhận lại khi hoàn thành công việc là hoàn toàn xứng đáng. Và khi được làm việc một cách chủ động, tự nguyện thì họ có thê đạt được năng suất lao động tốt nhất và hoàn thành xuất sắc công việc được giao.
Động lực lao động đóng vai trò quan trọng trong sự tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đôi. Động lực lao động như một sức mạnh vô hình từ bên trong con người thúc đầy họ lao động hăng say hơn. > Bản chất của động lực lao động Động lực lao động là những kích thích nhằm khuyến khích, thôi thúc, động viên con người thực hiện những hành vi theo mục dich nhất định. Bản chất của động lực xuất phát từ nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu của con người.
Giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu có một khoảng cách nhất định và khoảng cách đó luôn có động lực dé rút ngắn khoảng cách. - Tao động lực lao động về tinh than là những động lực lao động tác động lên tinh thần của người lao động. Có những người lao động có nhu cầu to lớn về tinh thần. Họ luôn phan dau lam viéc khi nhu cau duoc đáp ứng, ho làm việc vi muốn khẳng định mình, vì lý tưởng và hoài bão của cá nhân, vì muốn tạo dựng thương hiệu cá nhân.
Những gì họ cần hơn cả là những động viên kịp thời, được đánh giá cao trong công việc, được tôn trọng và thăng tiến. Với nhu cầu về tinh thần của người lao động, tùy thuộc từng loại công việc, tùy thuộc vào cách quản lý của t6 chức mà mức độ hài lòng của người lao động cũng khác nhau. Với lao động trẻ tuổi, ho cần được tạo cơ hội học tập, rèn luyện tinh thông nghề nghiệp, được trao cho các cơ hội dé thử thách bản thân, nhu cầu được ghi nhận tài năng và cơ hội thăng tiến. Với những lao động lâu năm, họ có nhu cầu được công nhận, tôn trọng và đánh giá cao sự cống hiến của họ, đặc biệt là nhu cầu được chia sẻ những kinh nghiệm quý báu cho đồng nghiệp và thế hệ trẻ.
Đối với nhiều lao động, sự quan tâm của doanh nghiệp giành cho hậu phương, gia đình của họ như chế độ động viên thăm hỏi, động viên con cái họ học hành thông qua các phong trào của công đoàn, phụ nữ. luôn là nguồn cô vũ động viên họ đóng góp tích cực hơn nữa cho doanh nghiệp. Ngoài ra, một môi trường làm việc rõ ràng, công bằng và minh bạch sẽ tạo dựng niềm tin để cho toàn bộ nhân viên yên tâm cống hiến cho doanh nghiệp. - Động lực lao động về vật chất là những động lực lao động tác động trực tiếp tới loi ích vật chất của người lao động.
Người lao động tham gia làm việc trong tô chức là để thỏa mãn các nhu cầu vật chất như: ăn, mặc, ở, đi lại. Việc thỏa mãn các nhu cầu này phụ thuộc vào thù lao về tài chính mà họ được nhận. Thù lao về tài chính càng lớn thì mức độ thỏa mãn nhu cầu vật chất càng cao. Tiền lương là yếu tô tác động trực tiếp và đóng vai trò duy trì động lực làm việc của người lao động.
Mức tiền lương bằng hoặc mức lương cao hơn các chi phí của cuộc sống sẽ gắn trách nhiệm của bản thân người lao động phải đáp ứng với yêu cầu của bảng mô tả công việc, là áp lực để họ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và cảm thấy xứng đáng với mức lương mà họ được nhận.