Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Động lực lao động Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, muốn đạt được hiệu quả cao, năng suất lao động cao thì bất kỳ doanh nghiệp và tổ chức nào cũng cần phải có đội ngũ nhân viên mạnh. Ngoài trình độ chuyên môn, đạo đức ra thì vấn đề động lực làm việc là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất và hiệu quả làm việc của người lao động.
Để tạo cho nhân viên tinh thần làm việc vui vẻ, tích cực và có tính sáng tạo cao trong công việc thì cần phải có biện pháp tạo động lực hiệu quả. Vậy trước hết cần hiểu rõ thế nào là động lực. Có nhiều quan điểm khác nhau về động lực. Động lực là lòng thôi thúc muốn làm một việc gì đó, hay nói cách khác bao gồm các lực thúc đẩy chúng ta làm một việc gì đó.
Hay động lực làm việc là mức độ mong muốn, ý định hay nhiệt huyết của một cá nhân để thực hiện một công việc nào đó với số lượng và chất lượng nhất định. Maier và Lawler (1973) đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng + Động lực Khả năng = Khả năng bẩm sinh + Đào tạo + Các nguồn lực Động lực = Khao khát + Tự nguyện Như vậy, động lực có tác động rất lớn đến kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân. Kết quả thực hiện công việc có thể được xem như một hàm số của năng lực và động lực làm việc. Năng lực làm việc phụ thuộc vào các yếu tố như giáo dục, kinh nghiệm, kỹ năng được huấn luyện.
Cải thiện năng lực làm việc thường diễn ra chậm sau một quãng thời gian đủ dài. Ngược lại, 7 động lực làm việc có thể cải thiện khá nhanh chóng. Tuy nhiên, động lực lại cần được thường xuyên duy trì. Nói đến động lực là nói đến các thúc đẩy, kích thích khiến cho cá nhân làm việc.
Biểu hiện của nó là sự sẵn sàng, nỗ lực và say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân đề ra. Nó là sự sẵn lòng làm một công việc nào đó và khái quát hơn là sự khao khát, tự nguyện của một con người nhằm tăng cường mọi sự nỗ lực để đạt được mục tiêu, một kết quả cụ thể nào đó. Như vậy, “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của con người, là sự sẵn sàng và nỗ lực làm việc để đạt đươc mục tiêu hay kết quả nào đó” 5; tr. Do đó, để có được một đội ngũ lao động làm việc tích cực, nhiệt tình, sáng tạo thì người quản lý phải hiểu được người lao động cần gì, thiếu gì để tìm cách thoả mãn nó, biến nó thành động lực giúp người lao động làm việc.
Vì vậy, người lãnh đạo phải hiểu rõ động lực của từng người lao động. Nhu cầu Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người: là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển như nhu cầu về thức ăn, thức uống, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, điều kiện làm việc… “Nhu cầu là những đòi hỏi của cá nhân để tồn tại và phát triển, nhu cầu thường là những đòi hỏi đi từ thấp tới cao, nhu cầu có tính phong phú, đa dạng, thay đổi theo bối cảnh như cá nhân và xã hội” 18, tr. Nhu cầu chính là một trạng thái tâm lý mà con người mong muốn thoả mãn về một cái gì đó và mong muốn được đáp ứng nó, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người cũng như cộng đồng và tập thể xã hội. Nhu cầu có thể chia thành hai nhóm: nhu cầu vật chất và nhu cầu về tinh thần.
Nhu cầu về vật chất gắn liền với những mong muốn về vật chất để tồn tại và phát triển của con người, nhu cầu về tinh thần gắn liền với sự hài lòng thoả mãn về tâm 8 lý. Với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, việc tìm hiểu đúng về nhu cầu của con người lao động là một cách tiếp cận hiện hữu để nhà quản trị nhân lực có những cách làm việc thuận lợi để từ đó người lao động yên tâm làm việc, cống hiến hết mình cho lợi ích chung của doanh nghiệp, tổ chức. Tạo động lực lao động Một hệ thống bộ máy quản trị nhân sự làm việc hiệu quả ngoài việc đảm bảo cho tổ chức, doanh nghiệp luôn có một đội ngũ nhân lực đủ cả về số lượng lẫn chất lượng thì còn phải biết cách phát huy và duy trì được khả năng tiềm tàng trong mỗi nhân viên. Qua đó hình thành nên một sức mạnh tập thể, trung thành và cống hiến hết mình cho tổ chức, doanh nghiệp.
Đó chính là vấn đề tạo động lực làm việc cho người lao động. Tạo động lực lao động vừa là trách nhiệm và đồng thời cũng là mục tiêu của tổ chức. Tổ chức có trách nhiệm phải nắm bắt được các nhu cầu, động cơ của người lao động và tìm cách thoả mãn nó trên cơ sở phù hợp với điều kiện, mục tiêu của tổ chức. Đồng thời, tổ chức phải cho người lao động thấy được những lợi ích về vật chất cũng như tinh thần mà họ có được từ sự cống hiến đó.
Từ đó giúp người lao động thấy được niềm vui trong lao động, gắn bó với tổ chức. Với cách hiểu như trên về động lực lao động, có thể hiểu tạo động lực chính là quá trình làm nảy sinh động lực lao động trong mỗi cá nhân người lao động. “Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực lao động trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đầu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức” 17, tr. Vậy thực chất của tạo động lực chính là việc xác định các nhu cầu của người lao động, thỏa mãn các nhu cầu hợp lý của người lao động làm tăng thêm lợi ích cho họ để họ có thể làm việc tích cực, tự giác, sáng tạo và hiệu quả mang lại lợi ích chung cho doanh nghiệp, tổ chức.
Một số học thuyết về tạo động lực lao động 1. Học thuyết về nhu cầu của Maslow Năm 1943 Abraham Maslow đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Đó là Lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người. Sự thể hiện cụ thể của tháp nhu cầu của Maslow: Tự khẳng định Được tôn trọng Xã hội An toàn Sinh lý Ông chia hệ thống nhu cầu thành 5 nhóm khác nhau theo thứ tự từ nhu cầu bậc thấp đến nhu cầu bậc cao như sau: (1) Nhu cầu sinh lý: là các nhu cầu cơ bản nhất của con người để tồn tại như không khí, nước, lương thực….Như vậy, có thể thấy việc trả công lao động tối thiểu cần đủ để đáp ứng những nhu cầu này giúp đảm bảo cuộc sống cho người lao động và gia đình.
(2) Nhu cầu an toàn: nhu cầu an toàn là như cầu được ổn định, chắc chắn, muốn được bảo vệ an toàn thân thể. Trong lao động, người lao động muốn có công việc ổn định, môi trường an toàn, đảm bảo về y tế sức khỏe,… (3) Nhu cầu xã hội là một trong những nhu cầu bậc cao của con người. Nhu cầu xã hội bao gồm nhu cầu giao, được thể hiện và chấp nhận tình cảm, 10 nhu cầu được chia sẻ sự yêu thương… Để đáp ứng nhu cầu này, tổ chức cần tạo điều kiện cho người lao động làm việc theo nhóm, tổ chức giao lưu, sinh hoạt tập thể ngoài giờ làm việc… (4) Nhu cầu được tôn trọng. Con người muốn mọi người kính trọng, vị nể mình, thừa nhận vị trí của mình trong xã hội.
Tổ chức có thể đáp ứng nhu cầu này bằng sự khen ngợi, ghi nhận thành tích, vinh danh người lao động… (5) Nhu cầu tự hoàn thiện là cấp độ cao nhất: là nhu cầu được phát triển, tự khẳng định mình. Họ mong muốn được biến năng lực của mình thành hiện thực, mong muốn làm các công việc có tính thách thức, đòi hỏi bản thân phải nỗ lực để đạt được mục tiêu, được tự chủ trong công việc. Tổ chức cần tạo cơ hội cho người lao động phát triển, thăng tiến, giao cho họ các nhiệm vụ mang tính thách thức… Theo Maslow, khi mỗi nhu cầu trong số các nhu cầu đó được thoả mãn thì nhu cầu tiếp theo sẽ trở nên quan trọng. Sự thoả mãn nhu cầu đi theo thứ tự từ thấp đến cao.
Mặc dù thực tế thì chẳng nhu cầu nào được thoả mãn hoàn toàn nhưng các nhu cầu khi đã được thoả mãn cơ bản thì không còn tạo ra động lực. Vì thế, theo Maslow, muốn tạo động lực cho nhân viên thì trước hết nhà quản lý phải hiểu được nhân viên đó đang ở đâu trong hệ thống thứ bậc này và hướng sự thỏa mãn vào nhu cầu ở thứ bậc đó. Như vậy, để tạo động lực lao động nhà quản lý cần xác định nhu cầu của nhân viên và đưa ra các biện pháp nhằm thoả mãn nhu cầu đó của họ để chính sách tạo động lực đạt được kết quả cao nhất. Học thuyết công bằng của J.
Stasy Adam Theo J.Adam, người lao động rất quan tâm đến vấn đề đối xử công bằng và đúng đắn trong tổ chức. Người lao động luôn có xu hướng so sánh sự đóng góp của họ và những quyền lợi họ đạt được với sự đóng góp và quyền lợi của người khác. Các quyền lợi cá nhân Các quyền lợi của những người khác >=< Đóng góp của cá nhân Đóng góp của những người khác 11 Người lao động cảm thấy tổ chức đối xử với họ công bằng khi tỷ lệ giữa quyền lợi họ nhận được và sự đóng góp của họ bằng tỷ lệ giữa quyền lợi và sự đóng góp của người khác. Khi mà người lao động cảm thấy bị thiệt thòi hơn người khác họ sẽ có thái độ tiêu cực, lười biếng, không tự giác trong công việc.
Do đó, để tạo động lực lao động cần phải tạo ra và duy trì sự cân bằng giữa quyền lợi và sự đóng góp của các thành viên trong công ty.