Luận văn thạc sĩ tạo động lực lao động tại khối cơ quan công ty tnhh nhà nước một thành viên thương mại và xuất nhập khẩu viettel

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tạo động lực lao động tại khối cơ quan công ty tnhh nhà nước một thành viên thương mại và xuất nhập, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Chuyên ngành

Quản trị nhân lực

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

133
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tạo Động Lực Lao Động Tại Viettel

Tạo động lực lao động là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả làm việc của nhân viên tại Công ty TNHH Nhà nước Một thành viên Thương mại và Xuất nhập khẩu Viettel. Động lực lao động không chỉ ảnh hưởng đến năng suất mà còn đến sự hài lòng và gắn bó của nhân viên với công ty. Việc hiểu rõ về động lực lao động giúp lãnh đạo xây dựng các chính sách phù hợp nhằm phát huy tối đa năng lực của nhân viên.

1.1. Định Nghĩa Động Lực Lao Động

Động lực lao động được hiểu là những yếu tố thúc đẩy nhân viên làm việc hiệu quả hơn. Nó bao gồm cả yếu tố nội tại và ngoại tại, từ nhu cầu cơ bản đến những mong muốn cao hơn trong công việc.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Động Lực Lao Động

Động lực lao động không chỉ giúp tăng năng suất mà còn tạo ra một môi trường làm việc tích cực, nơi mà nhân viên cảm thấy được trân trọng và có cơ hội phát triển.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Tạo Động Lực Tại Viettel

Mặc dù Viettel đã có nhiều nỗ lực trong việc tạo động lực cho nhân viên, nhưng vẫn còn tồn tại một số thách thức. Những vấn đề này có thể ảnh hưởng đến tinh thần làm việc và sự cống hiến của nhân viên. Việc nhận diện và giải quyết các vấn đề này là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả lao động.

2.1. Các Vấn Đề Hiện Tại

Một số vấn đề hiện tại bao gồm sự thiếu hụt trong chính sách phúc lợi, môi trường làm việc chưa thực sự thân thiện và sự thiếu giao tiếp giữa các cấp quản lý và nhân viên.

2.2. Thách Thức Từ Môi Trường Làm Việc

Môi trường làm việc tại Viettel đôi khi bị ảnh hưởng bởi áp lực công việc cao, dẫn đến sự căng thẳng và giảm sút động lực làm việc của nhân viên.

III. Phương Pháp Tạo Động Lực Lao Động Hiệu Quả Tại Viettel

Để nâng cao động lực lao động, Viettel cần áp dụng các phương pháp hiệu quả. Những phương pháp này không chỉ giúp cải thiện tinh thần làm việc mà còn tạo ra một môi trường làm việc tích cực hơn.

3.1. Kích Thích Tài Chính

Việc áp dụng các chính sách thưởng và phúc lợi hợp lý sẽ tạo động lực cho nhân viên. Các khoản thưởng dựa trên hiệu suất làm việc sẽ khuyến khích nhân viên nỗ lực hơn.

3.2. Kích Thích Phi Tài Chính

Ngoài các yếu tố tài chính, việc tạo ra một môi trường làm việc thân thiện, khuyến khích sự sáng tạo và phát triển cá nhân cũng rất quan trọng.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Tạo Động Lực Tại Viettel

Việc áp dụng các phương pháp tạo động lực lao động tại Viettel đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Nhân viên cảm thấy hài lòng hơn với công việc và có xu hướng gắn bó lâu dài với công ty.

4.1. Kết Quả Đạt Được

Năng suất làm việc của nhân viên đã tăng lên đáng kể sau khi áp dụng các biện pháp tạo động lực. Sự hài lòng của nhân viên cũng được cải thiện rõ rệt.

4.2. Bài Học Kinh Nghiệm

Các bài học từ việc tạo động lực lao động tại Viettel có thể được áp dụng cho các doanh nghiệp khác, giúp họ cải thiện hiệu quả làm việc của nhân viên.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Tạo Động Lực Tại Viettel

Tương lai của việc tạo động lực lao động tại Viettel phụ thuộc vào khả năng lãnh đạo trong việc áp dụng các chính sách phù hợp. Việc duy trì và phát triển động lực lao động sẽ là chìa khóa cho sự thành công bền vững của công ty.

5.1. Định Hướng Phát Triển

Công ty cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các chính sách tạo động lực lao động, đảm bảo rằng nhân viên luôn cảm thấy được trân trọng và có cơ hội phát triển.

5.2. Tầm Nhìn Tương Lai

Viettel cần hướng tới việc xây dựng một môi trường làm việc lý tưởng, nơi mà mọi nhân viên đều có thể phát huy tối đa năng lực của mình.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ tạo động lực lao động tại khối cơ quan công ty tnhh nhà nước một thành viên thương mại và xuất nhập khẩu viettel

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm có liên quan 1. Nhu cầu Từ lâu nhu cầu đã là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học nghiên cứu sinh học cũng như xã hội. Vấn đề về nhu cầu đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới đề cập và nghiên cứu.

Có thể nói nhu cầu là hiện tượng phức tạp, đa diện, đặc trưng cho mọi sinh vật. Sự hiện diện của nhu cầu ở bất kì sinh vật nào, hoặc ở bất kì xã hội nào được xem như cơ thể sống phức tạp, là đặc điểm để phân biệt chủ thể đó với môi trường xung quanh. Chính tính đa dạng của đối tượng tạo nên sự vô hạn của nhu cầu. Marshall viết rằng: "Không có số để đếm nhu cầu và ước muốn" [10] Từ xa xưa, Aristotle đã cho rằng con người có hai loại nhu cầu chính: thể xác và linh hồn.

Sự phân loại này mang tính ước lệ lớn nhưng nó ảnh hưởng đến tận thời nay và người ta quen với việc phân nhu cầu thành "nhu cầu vật chất" và "nhu cầu tinh thần". Ngoài ra còn tồn tại nhiều kiểu phân loại khác dựa trên những đặc điểm hay tiêu chí nhất định Theo “Bài giảng môn Tâm lý xã hội học lao động“ của TS. Bùi Thị Xuân Mai có định nghĩa Nhu cầu là những đòi hỏi của cá nhân để tồn tại và phát triển, nhu cầu thường là những đòi hỏi đi từ thấp tới cao, nhu cầu có tính phong phú, đa dạng, thay đổi theo bối cảnh (cá nhân và xã hội…) [9] Boris M. Genkin chia nhu cầu ra hai nhóm: nhu cầu tồn tại và nhu cầu đạt mục đích sống.

Nhu cầu tồn tại gồm nhu cầu sinh lí, nhu cầu an toàn và nhu cầu tham dự; Nhu cầu đạt mục đích sống có bốn nhóm: 1) giàu có về vật chất; 2) quyền lực và danh vọng; 3) kiến thức và sáng tạo; 4) hoàn thiện tinh thần. Tùy vào thiên hướng của từng cá nhân mà một trong số bốn nhu cầu trên 8 thể hiện nổi trội. Có thể trong một người hiện diện cả bốn dạng nhu cầu đó nhưng ở các giai đoạn khác nhau trong đời. [10] Tóm lại, nhu cầu là những đòi hỏi của cá nhân để tồn tại và phát triển.

Nhu cầu thường là đòi hỏi đi từ thấp đến cao, nhu cầu có tính phong phú, đa dang, thay đổi theo bối cảnh[9].Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Nhu cầu có thể được nhóm thành 2 nhóm là nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. Nhu cầu vật chất gắn liền với những mong muốn về vật chất để tồn tại và phát triển của con người, việc thỏa mãn chúng phụ thuộc vào thù lao tài chính. thù lao tài chính càng cao thì mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất càng cao.

Nhu cầu tinh thần gắn liền với sự hài lòng thỏa mãn về tâm lý. Tùy thuộc vào từng loại công việc, cách ứng xử của nhà quản lý và tập thể lao động mà mức độ thỏa mãn các nhu cầu tinh thần có thể khác nhau [8, tr. Động lực Nghiên cứu động lực hoạt động của con nguười đã được thực hiện từ rất lâu trong lịch sử tâm lý học. Bằng các cách tiếp cận và nghiên cứu khác nhau, các nhà tâm lý học đã tìm cách lý giải tại sao con người có thể thực hiện được hành vi nào đó, tại sao hoạt động của anh ta có thể kéo dài trong một thời gian nhất định hoặc ngưng lại đúng lúc … Theo từ điển Tiếng Việt: “Động lực được hiểu là cái thúc đẩy, làm cho phát triển „.

Nhà nghiên cứu Mitchell cho rằng: “ Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình„[12] Cũng nghiên cứu về động lực, nhà nghiên cứu Bolton đưa ra quan điểm: “Động lực được định nghĩa như một khái niệm để mô tả các yếu tố được các cá nhân nảy sinh, duy trì và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng đạt được mục tiêu „[12] 9 Tạp chí British Journal of Educational Psychology định nghĩa: “Động lực là lý do để thực hiện hành vi”[19, tr712] Tạp chí Family and Consumer Sciences viết: “Động lực là cái thúc đẩy con người làm hoặc không làm một điều gì đó” [20] Từ những định nghĩa trên ta có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất về động lực như sau: “Động lực là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể (động lực bao gồm tất cả những lý do khiến con người hành động“. [11] Động lực cũng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, các nhân tố này luôn thay đổi và tương đối là khó nắm bắt. Chúng được chia thành ba nhóm yếu tố cơ bản là: - Những yếu tố thuộc về con người tức là những yếu tố xuất hiện trong chính bản thân con người thúc đẩy con người làm việc. - Những nhân tố thuộc môi trường.

- Những yếu tố thuộc về nội dung bản chất công việc. Động lực lao động Động lực lý giải cho lý do tại sao một người lại hành động. Một người có động lực là khi người đó bắt tay vào làm việc một cách tự nguyện mà không cần có sự ép buộc, khi đó, họ có thể làm được nhiều hơn điều mà cấp trên mong chờ ở họ. Động lực làm việc thể hiện dưới nhiều khía cạnh khác nhau như sự nhiệt tình, chăm chỉ, bền bỉ.

Cũng nghiên cứu về động lực làm việc, một số chuyên gia tại Công ty Tâm Việt quan niệm về động lực lao động:“ Động lực lao động là động cơ có ý thức hay vô thức khơi gợi và hướng hành động và việc đạt được mục tiêu mong đợi „ Như vậy, để tạo động lực cho ai đó thực hiện việc gì, bạn phải làm cho người đó muốn làm việc đó chứ không phải bị buộc phải làm…[15] 10 Suy cho cùng động lực trong lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động mà ra. Như vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tạo ra được động lực để người lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức. Vì vậy “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức“ [7, tr.128] Động lực lao động không xuất phát từ bất kỳ sự cưỡng chế nào, không phát sinh từ các mệnh lệnh hành chính. Động lực lao động không biểu hiện qua lời nói mà qua các hành động cụ thể, nó xuất phát từ trong nội tâm của người lao động.

Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực trong hoạt động đồng thời trong bản thân mỗi người và trong môi trường sống, làm việc. Do vậy, hành vi có động lực ( hay hành vi được thúc đẩy, khuyến khích) trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp tác động của nhiều yếu tố như văn hóa tổ chức, kiểu lãnh đạo, cấu trúc của tổ chức, các chính sách nhân lực của tổ chức và cách thức triển khai thực hiện hiện các chính sách đó. Các yếu tố thuộc về các nhân người lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực cho chính họ như nhu cầu, mục đích, các giá trị, lý tưởng, hoài bão, các kế hoạch trong tương lai.144] Với những cách hiểu như trên, có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về động lực lao động: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”[13’,tr.

Suy cho cùng động lực trong lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động mà ra. Như vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tạo ra được động lực để người lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức. Tạo động lực lao động Trong sản xuất kinh doanh, muốn đạt được hiệu quả cao, năng suất lao động cao thì bất kỳ tổ chức nào cũng cần phải có đội ngũ nhân viên mạnh. Ngoài trình độ chuyên môn, đạo đức ra thì vấn đề tạo động lực làm việc là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất và hiệu quả làm việc của người lao động, nên tạo động lực làm việc luôn được quan tâm ở bất cứ tổ chức nào.

Mục đích quan trọng nhất của tạo động lực là sử dụng hợp lý nguồn lao động, khai thác tối đa hiệu quả nguồn lực con người nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức. Nếu không có động lực làm việc thì một người dù có khả năng làm việc tốt và có đầy đủ nguồn lực cũng có thể không thực hiện được mục tiêu. Một người có động lực làm việc cao có thể đạt hiệu suất làm việc như mong đợi, kể cả khi người đó hạn chế về kiến thức, kỹ năng. Hiệu quả làm việc của tổ chức được nâng lên không những bởi hiệu suất làm việc được gia tăng mà còn do tiết kiệm được nguồn lực, giảm chi phí hoạt động trong tổ chức.

Điều này chỉ có thể đạt được khi người lao động của tổ chức có động lực làm việc. Chính vì tầm quan trọng của tạo động lực mà từ trước đến nay có rất nhiều nghiên cứu về tạo động lực lao động, từ đó đưa ra những quan điểm về tạo động lực lao động Giáo trình Quản trị Nhân lực viết : “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức „. Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích vật chất và tinh thần, còn cách ứng xử của tổ chức được thể hiện ở việc tổ chức đó đối với người lao động như thế nào [8, tr.145] Như vậy, tạo động lực là sự vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao 12 động có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức, doanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ