phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, chữ viết tắt, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về tạo động lực lao động cho công nhân sản xuất trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng tạo động lực lao động cho công nhân sản xuất tại Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Châu Chƣơng 3: Giải pháp tạo động lực lao động cho công nhân sản xuất tại Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Châu 8 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CHO CÔNG NHÂN SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Động lực “Động lực được hiểu là sự khát khao, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu, kết quả nào đó. “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu suất cao” [17, 85].
Con ngƣời làm việc đều mong muốn đƣợc khẳng định bản thân, đƣợc thành đạt, cũng nhƣ muốn có thu nhập đảm bảo cho cuộc sống cá nhân. Khi con ngƣời ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mong muốn khác nhau. Nhà quản trị cần có những tác động khác nhau đến mỗi ngƣời lao động. Động lực mạnh sẽ thúc đẩy con ngƣời hành động một cách tích cực, đạt hiệu quả cao và ngƣợc lại.
Vậy theo tác giả, “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân ngƣời lao động” 1. Động cơ “Động cơ là mục đích chủ quan trong hoạt động của con người (cộng đồng, tập thể, xã hội) là động lực thúc đẩy con người hành động nhằm đáp ứng và thoả mãn các nhu cầu đặt ra” [17,128]. Động cơ còn là sự phấn đấu nội tâm đƣợc mô tả nhƣ những ƣớc muốn, mong muốn mang lại trạng thái kích thích làm việc hay thúc đẩy các hành 9 động lao động.
Một ngƣời có động cơ làm việc tích cực sẽ duy trì đƣợc tốc độ làm việc, nỗ lực kiên trì phấn đấu để đạt đƣợc mục đích, dự định của mình. Động cơ là sự tƣơng tác giữa cá nhân và tình huống. Theo cách nhìn của các nhà tâm lý học thì động cơ là thái độ chủ quan của con ngƣời đối với hành động, nó phản ánh mục đích đặt ra một cách có ý thức. Động cơ của con ngƣời cũng rất đa dạng và biến động theo thời gian.
Với ngƣời lao động, động cơ thể hiện ở mục đích kinh tế, địa vị xã hội, môi trƣờng làm việc thuận lợi hay sự tự hoàn thiện bản thân… Để khai thác đƣợc khả năng của con ngƣời, các nhà quản lý phải xác định đƣợc động cơ và tìm cách thỏa mãn những động cơ ấy càng nhiều càng tốt. Động cơ kéo theo sự nỗ lực kiên trì phấn đấu để đạt đƣợc mục đích. Động cơ càng lớn thì càng thôi thúc con ngƣời hành động để vƣơn lên để đạt đƣợc mục tiêu của mình hay lợi ích cụ thể nào đó để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Tuy nhiên, động cơ thƣờng rất trừu tƣợng và khó xác định bởi động cơ thƣờng đƣợc che giấu do yếu tố tâm lý và quan niệm xã hội của từng cá nhân.
Động cơ của con ngƣời thay đổi theo thời gian và môi trƣờng sống, do đó khi xem xét, đánh giá các động cơ, cần thiết phải nhìn nhận con ngƣời một cách đúng đắn, tìm ra động cơ chủ yếu và cấp thiết nhất để tạo ra động lực làm việc cao nhất. Hay nói cách khác, đó là việc tìm ra và thỏa mãn các lợi ích một cách thỏa đáng, bù đắp cho sức lao động đã bỏ ra của ngƣời lao động. Tạo động lực lao động trong doanh nghiệp, tổ chức. Theo tác giả Lê Thanh Hà:“Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự nguyện của người lao động buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra.
Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của tổ chức được thể hiện ở tổ chức đó đối xử lại với người lao động như thế nào”.[9, 145] Theo tác giả Bùi Anh Tuấn: “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao 10 động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc”. Từ các khái niệm trên có thể hiểu rằng tạo động lực lao động chính là việc các nhà quản trị vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp cách thức quản lý tác động tới ngƣời lao động nhằm làm cho ngƣời lao động có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn đƣợc đóng góp cho tổ chức, doanh nghiệp. Đặc điểm Công nhân sản xuất Dựa trên quan điểm nghiên cứu của tác giả, công nhân sản xuất gồm những ngƣời trực tiếp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các công việc dịch vụ nhất định. Đặc điểm của công nhân sản xuất: - Mang tính chất sản xuất trực tiếp ra sản phẩm - Đóng vai trò là ngƣời tác động vào máy móc tạo ra sản phẩm, không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng sử dụng sản phẩm - Có tính đa dạng, chuyên môn hóa cao Theo nội dung công việc của công nhân sản xuất, loại công nhân sản xuất đƣợc chia thành: - Công nhân sản xuất kinh doanh chính - Công nhân sản xuất kinh doanh phụ trợ - Công nhân của các hoạt động khác.
Theo năng lực và trình độ chuyên môn, công nhân sản xuất đƣợc phân thành các loại: - Công nhân tay nghề cao: Gồm những ngƣời đã qua đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong công việc thực tế, có khả năng đảm nhận các công việc phức tạp đòi hỏi trình độ cao. - Công nhân có tay nghề trung bình: Gồm những ngƣời đã qua đào tạo chuyên môn, nhƣng thời gian làm việc thực tế chƣa nhiều hoặc những ngƣời chƣa đƣợc đào tạo qua trƣờng lớp chuyên môn nhƣng có thời gian làm việc thực tế tƣơng đối lâu đƣợc trƣởng thành do học hỏi từ thực tế. 11 Trong đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu đối tƣợng công nhân sản xuất là công nhân sản xuất bánh kẹo - ngƣời trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm của công ty. Một số học thuyết về tạo động lực lao động 1.
Học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow Nhà tâm lý học ngƣời Mỹ - Abraham Maslow cho rằng con ngƣời có nhiều nhu cầu khác nhau cần đƣợc thỏa mãn và ông đã phân chia các nhu cầu của con ngƣời thành 5 nhóm và sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao.1: Tháp nhu cầu của Maslow (Nguồn: Tác giả Lê Thanh Hà (2009), Giáo trình quản trị nhân lực tập II, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội, tr.158) Nhu cầu sinh lý bao gồm những nhu cầu cơ bản để con ngƣời có thể tồn tại nhƣ thức ăn, nƣớc uống, quần áo mặc, nhà ở. Trong lao động, thể hiện qua việc ngƣời lao động muốn đƣợc nhận đƣợc mức tiền lƣơng hợp lý đủ để trang trải cho các sinh hoạt và đảm bảo cuộc sống của ngƣời lao động và gia đình. Nhu cầu an toàn là những mong muốn của con ngƣời đƣợc đảm bảo an toàn về thân thể. Ngƣời lao động mong muốn có một công việc ổn định lâu dài, điều kiện làm việc an toàn, đầy đủ, công tác an toàn bảo hộ lao động 12 đƣợc quan tâm nhằm bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của ngƣời lao động.
Nhu cầu xã hội thể hiện mong muốn của ngƣời lao động đƣợc giao lƣu, gặp gỡ, tiếp xúc thiết lập các mối quan hệ với những ngƣời khác trong cuộc sống và trong công việc. Tại nơi làm việc, có thể đƣợc đáp ứng thông qua các hoạt động giao lƣu, sinh hoạt tập thể ngoài giờ làm việc giữa mọi ngƣời lao động tỏng doanh nghiệp nhƣ bữa ăn trƣa tập thể, tham gia đội bóng của công ty, các chuyến du lịch, nghỉ mát. Nhu cầu đƣợc tôn trọng là nhu cầu có địa vị, đƣợc ngƣời khác tôn trọng hay thừa nhận đối với sự thành đạt, tài năng, năng lực của một cá nhân. Tại nơi làm việc, những vật tƣợng trƣng cho địa vị có thể thỏa mãn nhu cầu này nhƣ ngƣời lao động đƣợc làm việc trong những căn phòng làm việc lớn, đầy đủ tiện nghi, phần thƣởng xứng đáng với thành tích đạt đƣợc.
vì chúng chứng tỏ sự đánh giá và công nhận của doanh nghiệp đối với sự đóng góp của cá nhân. Nhu cầu tự hoàn thiện là cấp độ cao nhất thể hiện qua những nhu cầu về chân thiện, mỹ, tự chủ sáng tạo, mong muốn đƣợc phát triển toàn diện cả về thể lực và trí lực. Trong công việc, họ mong muốn làm các công việc có tính thách thức, đòi hỏi bản thân phải nỗ lực để đạt đƣợc mục tiêu, đƣợc tự chủ trong công việc. Maslow cho rằng cá nhân trong tổ chức chủ yếu hành động theo nhu cầu và chính sự thỏa mãn nhu cầu làm họ hài lòng và khuyến khích họ hành động.
Theo ông, nhu cầu của con ngƣời phát triển từ thấp đến cao, khi nhu cầu bậc thấp đƣợc thỏa mãn thì về cơ bản nó không còn tạo ra động lực và nhu cầu bậc cao hơn sẽ trở nên mạnh hơn và tác động quyết định đến hành vi của ngƣời lao động. Vì thế, muốn tạo động lực cho ngƣời lao động cần phải hiểu đƣợc cấp bậc nhu cầu hiện tại của ngƣời lao động, từ đó dùng các biện pháp nhằm hƣớng vào thỏa mãn các nhu cầu đó của họ để làm cho họ hăng hái và chăm chỉ hơn với công việc đƣợc giao, phấn chấn hơn khi thực hiện nhiệm vụ và tận tụy hơn với nhiệm vụ đảm nhận đồng thời đảm bảo đạt đến các mục tiêu của tổ chức. Học thuyết công bằng của J. Stacy Adams Theo J.Stacy Adams, ngƣời lao động trong tổ chức luôn muốn đƣợc đối xử một cách công bằng bao gồm cả công bằng bên trong và công bằng bên ngoài.