Phần mở đầu đã giới thiệu sơ lược về mục tiêu và ý nghĩa của tạo động lực làm việc cho người lao động. Chương này gồm có 3 phần chính: (1) Động lực và các yếu tố tạo động lực, (2) Các phương hướng, biện pháp tạo động lực lao động, (3) Ý nghĩa tạo động lực làm việc cho người lao động. Động lực và các yếu tố tạo động lực 1. Một số khái niệm cơ bản * Động lực lao động Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích.
Vì vậy các nhà quản lý luôn tìm cách để trả lời câu hỏi tại sao người lao động lại làm việc. Để trả lời được câu hỏi này các nhà quản trị phải tìm hiểu về động lực của người lao động và tìm cách tạo động lực cho người lao động trong quá trình làm việc. Vậy động lực là gì? Động lực là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực của mình nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu hay kết quả cụ thể nào đó của tổ chức. Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người, trong môi trường sống và làm việc của con người.
Như vậy, động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con người. Khi con người ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu mong muốn khác nhau. Chính vì những đặc điểm này nên động lực của mỗi con người là khác nhau do đó nhà quản lý cần có những cách tác động khác nhau đến mỗi người lao động. 9 z * Động cơ lao động Động cơ lao động được thể hiện ở: Mục tiêu thu nhập: Đây là mục tiêu hàng đầu của người lao động khi họ tham gia vào quá trình lao động.
Vì thu nhập là nguồn vật chất chủ yếu đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người. Mục tiêu phát triển cá nhân: Là mục tiêu hoàn thiện nhân cách cá nhân con người thông qua hoạt động xã hội. Khi thu nhập đã đảm bảo cuộc sống hàng ngày về mặt vật chất ở một mức nào đó thì người lao động luôn có xu hướng học tập để nâng cao sự hiểu biết cũng như nâng cao trình độ chuyên môn của mình. Mục tiêu về thỏa mãn hoạt động xã hội: Con người muốn được thể hiện mình thông qua tập thể.
Khi các mục tiêu về thu nhập và mục tiêu phát triển cá nhân đã được đáp ứng thì người lao động luôn có xu hướng tìm cách để khẳng định vị trí của mình trong xã hội thông qua các hoạt động xã hội. Qua đó, để đạt được hiệu quả sản xuất cao thì các nhà quản lý phải xác định được động cơ của người lao động hay nói cách khác là phải xác định được nhu cầu của người lao động ở từng giai đoạn phát triển của họ mức độ nào, từ đó có thể đưa ra những phương án để thỏa mãn những nhu cầu đó một cách hợp lý. Qua đó tạo động lực cho người lao động một cách hợp lý nhất * Nhu cầu Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt, mất cân bằng của chính cá thể đó. Chính trạng thái đó đòi hỏi con người hành động nhằm mục đích giành lấy đối tượng, lấy lại cân bằng.
Khi mất cân bằng, con người sẽ xuất hiện những cảm xúc khó chịu và nếu không được thỏa mãn sẽ nảy sinh tâm trạng bực hoặc tức tối,chán nản…Và khi các nhu cầu đó được thỏa mãn như đói được ăn, khát được uống, rét được sưởi ấm… thì lúc đó con người sẽ cảm thấy vui tươi, phấn khởi, yêu đời, thích thú làm việc. 10 z Nhu cầu của con người là một hệ thống phức tạp, nhiều tầng lớp, bao gồm vô số các chuỗi mắt xích của hình thức biểu hiện, có khả năng phát triển và đa dạng hóa. Nhu cầu ở cường độ yếu thể hiện lòng mong muốn, sự ước ao nên chưa đủ lực để thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu ở cường độ mạnh thể hiện bằng sự say mê, thích thú.
Lúc này con người hoạt động rất tích cực, hăng say và rất có hiệu quả. Nhu cầu ở cường độ quá mạnh trở thành đam mê. Lúc này con người hoạt đông một cách điên cuồng, thiếu sáng suốt và có thể là mù quáng. * Tạo động lực Tạo động lực được hiểu là một hệ thống, chính sách, biện pháp, cách thức tác động vào quá trình làm việc của người lao động.
Đây chính là khả năng tiềm tàng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác của tổ chức, đây cũng là trách nhiệm của các nhà quản trị, của những người quản lý trong quá trình tạo ra sự gắng sức tự nguyện của người lao động. Hành vi có động lực của người lao động trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp tác động của các yếu tố thuộc về tác nhân người lao động như nhu cầu, mục đích, các quan niệm về giá trị và các yếu tố thuộc về tổ chức như văn hóa thực hiện các chính sách đó. Một tổ chức chỉ có thể đạt được năng suất lao động và hiệu quả hoạt động cao khi có những người lao động làm việc tích cực và sáng tạo. Do đó các nhà quản lý cần xác định được mục tiêu của người lao động, phân tích được những yếu tố nào có thể tạo nên động lực cho người lao động, từ đó đưa ra những phương án để thỏa mãn những nhu cầu của người lao động một cách hợp lý.
Vậy tạo động lực cho người lao động được hiểu là tất cả các biện pháp của nhà quản trị áp dụng vào người lao động nhằm tạo ra động cơ cho người lao động. Ví dụ như: thiết lập nên những mục tiêu thiết thực vừa phù hợp với 11 z mục tiêu của người lao động vừa thoả mãn được mục đích của doanh nghiệp, sử dụng các biện pháp kích thích về vật chất lẫn tinh thần. Vậy vấn đề quan trọng của động lực đó là mục tiêu. Nhưng để đề ra được những mục tiêu phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của người lao động, tạo cho người lao động sự hăng say, nỗ lực trong quá trình làm việc thì nhà quản lý phải biết được mục đích hướng tới của người lao động sẽ là gì.
Việc dự đoán và kiểm soát hành động của người lao động hoàn toàn có thể thực hiện được thông qua việc nhận biết động cơ và nhu cầu của họ. Nhà quản trị muốn nhân viên trong doanh nghiệp của mình nỗ lực hết sức vì doanh nghiệp thì họ phải sử dụng tất cả các biện pháp khuyến khích đối với người lao động đồng thời tạo mọi điều kiện cho người lao động hoàn thành công việc của họ một cách tốt nhất. Khuyến khích bằng vật chất lẫn tinh thần, tạo ra bầu không khí thi đua trong nhân viên có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Các nhà quản trị đã từng nói “Sự thành bại của công ty thường phụ thuộc vào việc sử dụng hợp lý nhân viên trong doanh nghiệp như thế nào”.
Các yếu tố tạo động lực cho người lao động Động lực trong lao động là kết quả tổng hợp của các yếu tố có thể nằm bên trong con người và bên ngoài con người hay các yếu tố thuộc về môi trường. * Các yếu tố thuộc bản thân Hệ thống nhu cầu của con người: Mỗi một con người có một hệ thống nhu cầu khác nhau từ nhu cầu cơ bản (ăn, mặc, ở, đi lại…) đến nhu cầu cao (học tập, quan hệ xã hội, nghỉ ngơi, giải trí…). Tại một thời điểm nào đó, nhu cầu mạnh nhất trong hệ thống nhu cầu của cá nhân sẽ thúc đẩy cá nhân đó hành động. Đây là yếu tố sâu xa nhất, quan trọng nhất tạo nên động lực.
12 z Mục tiêu và các giá trị của cá nhân: Mỗi một cá nhân khi hoạt động đều có mục tiêu của mình. Cùng một công việc hay một vấn đề, do có sự khác nhau về mục tiêu và giá trị thực hiện giữa các cá nhân nên sẽ tạo ra động lực cao hay thấp khác nhau. Quan điểm thái độ của người lao động trước một sự việc nào đó: Tùy thuộc vào thái độ của con người tiêu cực hay tích cực, lạc quan hay bi quan mà dẫn đến các mức độ động lực khác nhau. Khả năng, năng lực của từng người: Các đặc điểm riêng của cá nhân (có thể do bẩm sinh hoặc hình thành từ quá trình làm việc như tính tình luôn vui vẻ, ham thích làm việc hoặc tính chây lỳ, thụ động trong quá trình làm việc…) có ảnh hưởng tới động lực của cá nhân đó.
* Các yếu tố thuộc về môi trường Bên cạnh sự ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về con người. Động lực của con người còn chịu tác động của các yếu tố thuộc về môi trường. Các yếu tố thuộc về môi trường bao gồm: những yếu tố thuộc về công việc và những yếu tố thuộc về tổ chức. * Những yếu tố thuộc về công việc: – Kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc – Mức độ chuyên môn hoá của công việc * Những yếu tố thuộc về tổ chức: – Công việc phù hợp là một điều kiện để người lao động làm việc tốt Văn hoá của tổ chức: là đặc trưng mang tính chất về tinh thần, về lối sống do truyền thống, tập quán, thói quen, mục tiêu và các giá trị chung của tổ chức, đã tạo nên bầu không khí tâm lý xây dựng của tổ chức đó.
Làm việc trong một bầu không khí tâm lý lành mạnh sẽ tạo ra một động lực cao đối với mọi người. Văn hóa doanh nghiệp chính là “Linh hồn của doanh nghiệp” nghĩa là tiềm thức của một tổ chức. Một mặt nó được tạo ra từ mối quan hệ 13 z của các thành viên trong doanh nghiệp. Mặt khác nó lại điều khiển mối quan hệ đó với danh nghĩa là “Chương trình của tập thể” Tác phong lãnh đạo: có ảnh hưởng to lớn đến tinh thần thái độ của người lao động hay bầu không khí tâm lý chung của tập thể, tổ chức, doanh nghiệp.
Tuỳ theo phong cách lãnh đạo độc đoán, dân chủ, tự do của người lãnh đạo mà có thể kích thích, khai thác được tiềm năng, sức sáng tạo của người lao động đối với công việc. Các chính sách về nhân sự và việc thực hiện các chính sách đó: Các chính sách về nhân sự như thù lao lao động, chế độ làm việc nghỉ ngơi, các quy định quy chế, đánh giá thực hiện công việc, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.