CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về tạo động lực trong doanh nghiệp 1. Động cơ làm việc của nhân viên trong doanh nghiệp Theo từ điển Tiếng Việt, động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy con người ta suy nghĩ và hành động. Piaget: “Động cơ là tất cả các yếu tố thúc đẩy cá thể hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu và định hướng cho hoạt động đó.
(1972) ) Theo thuyết tâm lý hoạt động: Những đối tượng nào được phản ánh vào óc ta mà có tác dụng thúc đẩy hoạt động, xác định phương hướng hoạt động để thỏa mãn nhu cầu nhất định thì được gọi là động cơ hoạt động. Động cơ theo nghĩa rộng nhất được hiểu là cái thúc đẩy con người hoạt động làm thỏa mãn nhu cầu, là cái làm nảy sinh tính tích cực và xu hướng của tính tích cực đó. Động cơ là nguyên nhân trực tiếp của hành vi. Động cơ làm việc là sự khao khát và tự nguyện của nhân viên để tăng cường nỗ lực nhằm hướng đến việc đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Động cơ làm việc cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và trong môi trường sống và làm việc của con người. (Nguyễn Vân Điềm & Nguyễn Ngọc Quân (2012), Quản trị nhân lực, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội) Các nhà tâm lý học Xô Viết quan niệm: “Động cơ là sự phản ánh nhu cầu”. Những đối tượng đáp ứng nhu cầu tồn tại trong hiện thực khách quan, một khi chúng bộc lộ ra và được chủ thể nhận biết thì sẽ thúc đẩy, hướng dẫn con người hoạt động. Nói khác đi, khi nhu cầu gặp đối tượng có khả năng thỏa mãn thì trở thành động cơ.
Động cơ là sự biểu hiện chủ quan có nhu cầu. Có thể phân chia nhu cầu thành hai loại: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Luan van 7 Nhu cầu vật chất là nhu cầu tổng hợp về các yếu tố vật chất cần thiết để con người tồn tại và phát triển trong một điều kiện môi trường nhất định. Nhu cầu tinh thần là những yếu tố làm thỏa mãn về mặt tâm lý, tạo những điều kiện để con người phát triển về mặt trí lực, tạo ra tâm lý thoải mái trong quá trình lao động.
Mối quan hệ của nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần là rất sâu sắc. Bên trong như cầu vật chất luôn gắn liền nhu cầu về tinh thần và ngược lại nhu cầu về tinh thần luôn tồn tại song song nhu cầu vật chất. Nhu cầu của con người rất khó được định lượng cụ thể. Khi đạt được nhu cầu này tại một thời điểm, con người lại nảy sinh một nhu cầu mới cao hơn, tốt hơn, thậm chí là khó đạt được hơn rất nhiều nhu cầu cũ.
Bởi vậy, động cơ làm việc của nhân viên trong doanh nghiệp cũng vì thế mà thay đổi theo thời gian, môi trường, hoàn cảnh và con người xung quanh. Động lực làm việc cho nhân viên trong doanh nghiệp Nhà nghiên cứu Terence R.Mitchell (1982) cho rằng: động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình. Tác giả Guay (2010) trong tạp chí Family and Consumer Sciences thì cho rằng động lực là cái thúc đẩy con người làm hoặc không làm một điều gì đó. Cụ thể hơn, ở Việt Nam có rất nhiều định nghĩa, giải thích về động lực làm việc , tiêu biểu như sau: - Động lực làm việc là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và trong môi trường sống, làm việc của con người (Nguyễn Ngọc Quân & Nguyễn Vân Điềm (2012), Quản trị nhân lực, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, tr.
- Theo TS Bùi Anh Tuấn trường Đại học Kinh tế quốc dân: “Động lực của nhân viên là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong Luan van 8 điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao” (Bùi Anh Tuấn(2009), Hành vi tổ chức, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội ). Mọi doanh nghiệp đều mong muốn nhân viên của mình hoàn thành công việc với hiệu quả tối ưu, góp phần hoàn thiện mục tiêu lớn. Tuy nhiên trong tập thể luôn có nhân viên hăng say, chăm chỉ, bền bỉ và có người thực hiện công việc trong trạng thái mệt mỏi, chán chường, thiếu tỉnh táo. Động lực làm việc của nhân viên là thực sự cực kỳ quan trọng, nhưng khó lòng xuất phát từ sự cưỡng chế hay các mệnh lệnh hành chính đơn thuần.
Tầm quan trọng của việc tạo động lực làm việc cho nhân viên trong doanh nghiệp Theo PGS.TS Bùi Anh Tuấn trường đại học Kinh tế quốc dân: “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến nhân viên nhằm làm cho nhân viên có động lực trong làm việc" (Bùi Anh Tuấn(2009), Hành vi tổ chức, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội ). Nhà quản trị muốn nhân viên nỗ lực hết sức khi làm việc thì phải truyền được động lực đủ lớn dành cho nhân viên, đồng thời tạo mọi điều kiện môi trường cho nhân viên hoàn thành công việc một cách thuận lợi nhất. Khuyến khích bằng vật chất lẫn tinh thần, tạo ra bầu không khí thi đua trong nhân viên có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Tạo động lực cho nhân viên chính là việc doanh nghiệp dùng những biện pháp nhất định để kích thích nhân viên làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình, hăng say và có hiệu quả hơn trong công việc.
Tạo động lực cũng chính là tạo ra sự hấp dẫn của công việc, của kết quả thực hiện công việc, của tiền lương, tiền thưởng. Sự hấp dẫn càng lớn thì lợi ích đem lại cho nhân viên càng nhiều, nhân viên càng hăng say làm việc để có thể đạt được lợi ích đó. Khi nhân viên cảm thấy sự hấp dẫn trong công việc, họ làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình do đó các nhà quản lý cần quan tâm tạo động lực cho nhân viên để hướng hành vi của nhân viên theo một chiều hướng quỹ đạo nhất định. Luan van 9 Mục đích quan trọng nhất của tạo động lực làm việc là khai thác, sử dụng có hiệu quả, phát huy những tiềm năng của nhân viên trong tổ chức tạo động lực làm việc, tạo ra sự gắn bó, thu hút những nhân viên giỏi về tổ chức.
Sự gắn bó nhiệt tình của họ cùng với biện pháp tạo động lực tốt sẽ làm tăng sức cuốn hút nhân viên giỏi đến với tổ chức. Như vậy, có thể coi vấn đề tạo động lực làm việc là vấn đề thuộc về sự chủ động của tổ chức. Để có thể tạo động lực làm việc cho nhân viên thì tổ chức phải xem xét sẽ phải đưa ra chính sách nào để thúc đẩy động lực làm việc của nhân viên, sẽ phải tạo ra môi trường làm việc, môi trường giao tiếp như thế nào để nhân viên cảm thấy thoải mái nhất và có động lực lao động cao nhất.Tuy nhiên không phải tổ chức nào cũng có những giải pháp hoàn hảo cho tất cả những vấn đề này, bởi nguồn lực tổ chức là có hạn. Do đó, tổ chức sẽ phải lựa chọn những vấn đề ưu tiên nhất để giải quyết trước trong phạm vi nguồn lực hạn chế của mình để các quyết định, chính sách.
có thể thực hiện được. Tạo động lực làm việc cho nhân viên trong doanh nghiệp Trên thực tế việc tạo động lực làm việc cho nhân viên, nhân viên rất đa dạng. Có rất nhiều học thuyết tạo động lực và mỗi một học thuyết đều chỉ có thể đề cập đến một số khía cạnh trong tạo động lực. Vì vậy tùy thuộc thời điểm nghiên cứu và môi trường phát triển xã hội đặc điểm tổ chức mà có thể áp dụng một hay một số học thuyết cho phù hợp.
Không có học thuyết nào toàn diện, hoàn chỉnh áp dụng trong mọi điều kiện hoàn cảnh. Về cơ bản, dù các học thuyết nghiên cứu về tạo động lực ở các khía cạnh khác nhau thì nội dung tạo động lực cho nhân viên trong tổ chức, doanh nghiệp luôn bao gồm một số công việc chính là: xác định nhu cầu, mong muốn của nhân viên và đưa ra các biện pháp thích hợp để kích thích tạo động lực cho nhân viên phù hợp với điều kiện thực tế của các tổ chức, doanh nghiệp Ở luận văn này sẽ đề cập tới học thuyết nhu cầu của A. Maslow để phân tích nhu cầu của nhân viên và sự thỏa mãn có ảnh hưởng như thế nào đến nhân viên; học thuyết công bằng của Stacy Adam, học thuyết hai yếu tố của Herzberg, và học Luan van 10 thuyết kỳ vọng của Victor Vroom là cơ sở phân tích các biện pháp kích thích về tài chính, phi tài chính trong việc tạo động lực cho nhân viên. Các nội dung chính bao gồm - Xác định nhu cầu của nhân viên - Các biện pháp kích thích tài chính - Các biện pháp kính thích phi tài chính.
Như vậy nếu động lực làm việc là những nhân tố xuất phát từ bên trong nhân viên thì tạo động lực lại là một công việc của nhà quản lý làm sao cho nhân viên của mình có ĐLLV. Để tạo được động lực làm việc, nhà quản lý phải bỏ chi phí: Chi phí đó được biểu hiện dưới dạng tiền lương của nhân viên và các nhân tố vô hình khác như tính hấp dẫn của công việc, văn hoá tổ chức môi trường làm việc… Nhà quản lý tạo ra tiền lương đủ hấp dẫn để chi trả cho nhân viên, bỏ thời gian tiền bạc để đầu tư thiết kế công việc hấp dẫn, có tính thách thức, công việc ổn định và độ rủi ro trong công việc là thấp, công ty phải chú ý xây dựng môi trường làm việc thật tốt, văn hoá công ty thật phù hợp. Như vậy có thể thấy tạo động lực là một quá trình liên tục, tốn nhiều chi phí và khá phức tạp. Bởi vì không phải bỏ tiền ra là nhà quản lý có thể có được động lực làm việc của nhân viên, việc thiết kế công việc và xây dựng môi trường làm việc và văn hoá công ty không phải là dễ dàng, không phải bao giờ cũng kích thích được nhân viên.
Chính điều đó làm nên tính nghệ thuật của tạo động lực lao động nói chung và quản trị nhân lực nói riêng. Một số học thuyết tạo động lực 1. Học thuyết nhu cầu của Maslow Một trong các học thuyết mà các nhà quản trị luôn nhắc tới đầu tiên là học thuyết nhu cầu Maslow.