Chương 1: Một số lý luận cơ bản về tạo động lực làm việc cho người LĐ trong DN Chương 2: Thực trạng tạo động lực làm việc cho người LĐ tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Vật tư thiết bị Tuấn Long Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh tạo động lực làm việc cho người LĐ tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Vật tư thiết bị Tuấn Long. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Người lao động trong doanh nghiệp XH muốn tồn tại và phát triển cần phải có LĐ.
LĐ là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của mình. Nhưng LĐ của một cá nhân không thể trực tiếp SX ra SP phục vụ mọi nhu cầu mình đòi hỏi.Vì thế, trong XH xuất hiện sự phân công LĐ XH để phục vụ cho các đối tượng khác chứ không phải chỉ phục vụ cho riêng mình. Người LĐ với tư cách là một yếu tố của sự phát triển KT - XH là khả năng LĐ của XH được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi LĐ có khả năng LĐ. Người LĐ còn có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình LĐ, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình LĐ.
Tạo động lực làm việc cho người lao động Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về động lực làm việc với các quan điểm khác nhau của các tác giả, nhưng có những điểm chung cơ bản. Theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2011), “Động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của người LĐ để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và môi trường sống và làm việc của con người một mục tiêu, kết quả nào đó”. Theo tác giả: “động lực làm việc xuất phát từ bản thân người LĐ, nó thôi thúc người lao đông nỗ lực làm việc hơn nữa để đạt tới mục tiêu đã đề ra” Robbins.S (2001) lại quan điểm về động lực làm việc như sau “Động lực được hiểu là sự tự nguyện nỗ lực ở mức độ cao nhằm hướng tới những mục tiêu của tổ chức, được tạo điều kiện bởi khả năng của những nỗ lực đó để thỏa mãn một số nhu cầu cá nhân” Theo Bùi Anh Tuấn (2013), “Động lực làm việc là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện kiện cho phép tạo ra năng suất, 9 hiệu quả cao”.
Tác giả đề cập tới “những nhân tố bên trong con người, đó chính là sự say mê, nỗ lực làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như mục tiêu của bản thân người LĐ. Những nhân tố này kích thích người LĐ làm việc tốt hơn, giúp tăng năng suất, nâng cao hiệu quả của quá trình làm việc” Từ những định nghĩa trên ta có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất về động lực như sau: “Động lực là tất cả những gì thôi thúc, khuyến khích, động viên người LĐ tự nguyện thực hiện những hành vi nhằm đạt được mục tiêu nhất định” Động lực có thể thay đổi, phụ thuộc vào yếu tố khách quan trong công việc. Tuy nhiên động lực còn mang tính tự nguyện, phụ thuộc vào chính bản thân người LĐ. Vì vậy nên khi xem xét vấn đề động lực và làm thế nào để tạo ra động lực thì cần phải xem xét tác động lên cả hai khía cạnh khách quan là yếu tố công việc, môi trường làm việc và yếu tố chủ quan chính là bản thân người LĐ.
Lê Thanh Hà (2009) cho rằng: “Tạo động lực là XD và thực thi một hệ thống các chính sách, giải pháp, thủ thuật quản trị tác động đến người LĐ khiến cho người LĐ yêu thích và sáng tạo hơn trong công việc để đạt được kết quả tốt nhất có thể đối với mỗi nhiệm vụ cụ thể được giao. Nhà quản trị muốn nhân viên trong tổ chức của mình nỗ lực hết sức vì tổ chức thì họ phải sử dụng tất cả các biện pháp khuyến khích đối với người LĐ, đồng thời tạo mọi điều kiện cho người LĐ hoàn thành công việc của họ một cách tốt nhất. Khuyến khích bằng vật chất lẫn tinh thần, tạo ra bầu không khí thi đua trong nhân viên có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của tổ chức” Theo Nguyễn Thành Độ và Nguyễn Ngọc Huyền, “Tạo động lực làm việc là tổng hợp các giải pháp quản trị nhằm tạo ra các động lực vật chất (thù lao LĐ) và tinh thần cho người LĐ”. Theo tác giả: “trong một tổ chức, nhà quản trị có trách nhiệm tìm ra các giải pháp, các thủ thuật, các cách thức thích hợp để nâng cao động lực làm việc của người LĐ.
Khi động lực làm việc được nâng cao, họ sẽ làm việc hăng say hơn, phát huy được tính sáng tạo trong công việc, góp phần nâng cao năng suất LĐ, có thể tạo nên sự đột phá của tổ chức” Theo tác giả Cảnh Chí Dũng (2012), “Tạo động lực, về bản chất có ý nghĩa: khích lệ nhân viên nỗ lực làm việc để tăng năng chất lượng đầu ra của tổ chức. Các yếu tố chính mà hoạt động tạo động lực cần có: chủ thể của tạo động lực, khách thể 10 của tạo động lực và công cụ của tạo động lực. Các yếu tố này lần lượt là: những nhà lãnh đạo, nhà quản trị; những LĐ của nhiều đẳng cấp khác nhau và những chính sách, chế độ mà nhà lãnh đạo sử dụng để kích thích, động viên người LĐ làm việc một cách hăng say nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Do đó, có thể hiểu tạo động lực làm việc là quá trình mà các nhà lãnh đạo, các nhà quản trị tìm ra những chính sách, chế độ để kích thích, động viên người LĐ làm việc một cách nỗ lực, đóng góp hết mình vào việc hoàn thành mục tiêu của tổ chức” Nói tóm lại, “tạo động lực làm việc cho người LĐ là hệ thống chính sách, giải pháp, quản lý tác động tới người LĐ nhằm làm cho người LĐ có động lực trong làm việc”.
Mỗi DN có thể lựa chọn những chính sách, giải pháp, thủ thuật tạo động lực cho nhân viên phù hợp với đặc thù riêng của đơn vị. Một số học thuyết về tạo động lực cho người lao động 1. Học thuyết nhu cầu của Abarham Maslow “Năm 1943, Abraham Maslow đã đưa ra quan điểm về nhu cầu của con người và nhu cầu này được sắp xếp theo các thứ bậc khác nhau. Học thuyết của ông được dựa trên những con người khỏe mạnh, sáng tạo, những người sử dụng tất cả tài năng, tiềm năng và năng lực trong công việc.
Vào thời điểm đó, phương pháp này khác biệt với các công trình nghiên cứu tâm lý con người khác được dựa trên việc quan sát con người bị chi phối bởi các phiền muộn là chủ yếu. Có hai nhóm nhu cầu chính của con người: Nhu cầu cơ bản (basic needs) và Nhu cầu bậc cao (meta needs). Cấu trúc Tháp nhu cầu Maslow có 5 tầng, trong đó những nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp. Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thỏa mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn.
Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thỏa mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ” (Nguyễn Vân Điềm, 2012) 11 Hình 1. Tháp nhu cầu của Maslow (Nguồn: A. Maslow, 1943) “5 tầng trong Tháp nhu cầu của Maslow: - Tầng thứ nhất: bao gồm toàn bộ các nhu cầu căn bản nhất thuộc thể lý (physiological) - thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, nghỉ ngơi. - Tầng thứ hai: nhu cầu an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo.
- Tầng thứ ba: nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc (love/belonging) - muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy. - Tầng thứ tư: nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) - cần có cảm giác được tôn trọng, kính mến, được tin tưởng. - Tầng thứ năm: nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization) - muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt. Người lãnh đạo hoặc quản lý có thể sử dụng các công cụ hoặc biện pháp để tác động vào nhu cầu hoặc kỳ vọng của nhân viên làm cho họ hăng hái và tận tụy hơn với nhiệm vụ mình đảm nhận.
Nhu cầu cơ bản về sinh lý có thể được đáp ứng thông qua mức lương tốt, đài thọ bữa trưa hoặc ăn giữa ca miễn phí, hoặc bảo đảm các khoản 12 phúc lợi khác. Đáp ứng nhu cầu về quan hệ XH thể hiện qua các hoạt động giao lưu, sinh hoạt tập thể ngoài giờ làm việc giữa các bộ phận trong công ty. Đồng thời, những hoạt động này còn giúp phát triển ý thức cộng đồng hay tinh thần đồng đội. Đối với nhu cầu tự hoàn thiện, nhà quản lý có thể tạo cơ hội phát triển những thế mạnh cá nhân.
Người LĐ cần được đào tạo và và có cơ hội tự nâng cấp bản thân, cần được khuyến khích tham gia vào sự phát triển chung của DN hoặc tổ chức” (A. Maslow, 1943) Qua nghiên cứu tháp nhu cầu của Maslow, các nhà quản trị sẽ phân chia nhu cầu của người lao động trong doanh nghiệp theo từng nhóm cấp độ, trên cơ sở đó thỏa mãn nhu cầu của từng nhóm nhằm tạo động lực, kích thích tinh thần làm việc cho nhân viên. Học thuyết công bằng của Stacy Adams J. Stacy Adams đề cập đến các vấn đề nhận thức của người LĐ về mức độ được đối xử công bằng và đúng đắn trong tổ chức.
“Giả thuyết cơ bản của học thuyết là mọi người LĐ trong tổ chức đều muốn được đối xử một cách công bằng bao gồm cả công bằng bên trong và công bằng bên ngoài. Công bằng bên trong nghĩa là người LĐ mong muốn được đánh giá chính xác những thành tích đóng góp của họ đối với tổ chức và được nhận mức lương, phần thưởng và các đãi ngộ xứng đáng với những đóng góp hay công sức mà họ đã bỏ ra.