PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nguồn nhân lực là nguồn vốn hàng đầu của mọi doanh nghiệp nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng, là công cụ chủ yếu để các ngân hàng thương mại (NHTM) giành được ưu thế cạnh tranh. Người lao động tại ngân hàng vừa là tài nguyên của NHTM, vừa là một yếu tố rất lớn cấu thành nên chi phí kinh doanh của ngân hàng. Vì thế, vai trò của quản lý người lao động ngày càng được đề cao trong các NHTM.
Do vậy, làm thế nào để giữ chân người lao động đặc biệt là người lao động giỏi và kích thích họ làm việc hăng say, cống hiến hết mình và trung thành với tổ chức đang ngày càng chú trọng. Nhưng để làm được điều đó, nhà quản lý phải xác định được nhu cầu của người lao động để có những giải pháp thỏa mãn nhu cầu của họ. Trong giai đoạn hiện nay, ngành ngân hàng đang đối mặt với nhiều khó khăn, sự thất vọng và chán nản trong công việc của nhiều người lao động tại nhiều NHTM đang gia tăng, hiện tượng người lao động ngân hàng bỏ việc hoặc nhảy việc ngày càng nhiều. Có nhiều lí do giải thích cho việc này như người lao động ngân hàng đang cảm thấy công việc áp lực, thu nhập chưa tương xứng với thời gian làm việc, hoặc người lao động ngân hàng cảm thấy rằng họ đang làm việc tại vị trí không có triển vọng thăng tiến, người lao động không được động viên, khích lệ để thực hiện những trách nhiệm mới trong ngân hàng… Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam (Vietinbank) - Chi nhánh Cao Bằng trong thời gian qua đã có những chính sách quan tâm đến đời sống của người lao động, tuy nhiên chính sách đãi ngộ đối với người lao động của Chi nhánh vẫn còn chậm và chưa phù hợp với tình hình thực tế, chưa đáp ứng được theo mong muốn của người lao động, không theo kịp các bước tiến của các NHTM trên cùng địa bàn, vì vậy chưa đáp ứng được các mong muốn cũng như chưa tạo được động lực đủ mạnh cho người lao động của Chi nhánh.
Chính vì vậy, trong thời gian, đã có một số người lao động tại Vietinbank – Chi nhánh Cao Bằng chuyển sang làm việc 2 tại các NHTM cổ phần khác trên địa bàn, một số người lao động không chủ động trong công việc, không tâm huyết cống hiến hết khả năng của mình cho Ngân hàng. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do chính sách tạo động lực của Vietinbank – Chi nhánh Cao Bằng chưa thực sự kích thích được người lao động hăng say làm việc và giữ chân được người lao động giỏi, có trí, có tài, chính sách nhân sự chưa tạo được niềm tin về cơ hội thăng tiến phát triển nghề nghiệp của nhân viên. Xuất phát từ những lý do trên, là cán bộ công tác tại Vietinbank – Chi nhánh Cao Bằng, để gia tăng hiệu quả công tác tạo động lực làm việc cho người lao động tại Vietinbank – Chi nhánh Cao Bằng, học viên đã lựa chọn đề tài: “Tạo động lực làm việc cho người lao động tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Cao Bằng” để nghiên cứu và làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2.
Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá được thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm tạo động lực làm việc cho người lao động tại Vietinbank – Chi nhánh Cao Bằng. Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hóa cơ sở lý luận vể tạo động lực làm việc cho người lao động; - Phân tích thực trạng tạo động lực làm việc cho người lao động tại Vietinbank – Chi nhánh Cao Bằng trong giai đoạn 2017- 2019; - Đề xuất giải pháp nhằm tạo động lực làm việc cho người lao động tại Vietinbank – Chi nhánh Cao Bằng trong thời gian tới. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tạo động lực làm việc cho người lao động tại Vietinbank – Chi nhánh Cao Bằng 3.
Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp tạo động lực cho người lao động tại Vietinbank – Chi nhánh Cao Bằng.Trong đó, người lao động 3 được giới hạn là cán bộ nhân viên (không bao gồm cấp quản lý, lãnh đạo của Vietinbank – Chi nhánh Cao Bằng). - Về không gian: Ngân hàng Vietinbank – Chi nhánh Cao Bằng. - Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng tạo động lực cho người lao động tại Vietinbank – Chi nhánh Cao Bằng trong giai đoạn 2017 - 2019. Đề xuất giải pháp tạo động lực cho người lao động đến năm 2025.
Phƣơng pháp nghiên cứu 4. Phương pháp thu thập số liệu - Đối với số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Vietinbank - Chi nhánh Cao Bằng. Các báo cáo về tình hình nhân sự, tiền lương, về quy chế chi tiêu nội bộ, các thông tin, báo cáo liên quan đến chế độ của nhân viên tại Ngân hàng trong giai đoạn 2017 – 2019. Bên cạnh đó, luận văn tiến hành thu thập thông tin từ các website, sách báo, tạp chí nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, và các giáo trình có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Đối với số liệu sơ cấp: Số liệu sơ cấp của luận văn được thu thập chủ yếu thông qua việc điều tra khảo sát đánh giá của người lao động về công tác tạo động lực của Chi nhánh như về tiền lương, khen thưởng, phúc lợi, tính chất công việc, môi trường làm việc, đào tạo và phát triển cùng các chính sách khác có liên quan. Nội dung điều tra được cụ thể hóa thành những câu hỏi và phương án trả lời trong phiếu điều tra. + Thiết kế bảng hỏi khảo sát: Phần 1 là những đánh giá của nhân viên đối với công tác tạo động lực làm việc tại Ngân hàng. Thang đo đánh giá được xây dựng dựa trên cơ sở là các lý thuyết về tạo động lực và các nghiên cứu đã được thực hiện trước đây.
Theo đó, tác giả tiến hành đánh giá công tác tạo động lực làm việc của ngân hàng Vietinbank - Chi nhánh Cao Bằng thông qua các khía cạnh: (1) Tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp và phúc lợi; (2) Tính chất công việc; (3) Môi trường làm việc; (4) Đánh giá thành tích và (5) Đào tạo, phát triển và cơ hội thăng tiến. Bên cạnh đó, phần này cũng thu thập đánh giá của người lao động về động lực làm việc tại ngân hàng Vietinbank – 4 Chi nhánh Cao Bằng thông qua: (1) Kết quả thực hiện công việc; (2) Thái độ làm việc và ý thức chấp hành kỷ luật; (3) Mức độ gắn bó; (4) Sự hài lòng. Các khái niệm này được đánh giá thông qua thang đo Likert từ 1 đến 5 điểm. Theo đó: 1 là Hoàn toàn không đồng ý; 2 là Không đồng ý; 3 là Không ý kiến; 4 là Đồng ý và 5 là Hoàn toàn Đồng ý.
Phần 2 là những thông tin cá nhân của nhân viên ngân hàng như giới tính, thời gian công tác, … + Mẫu khảo sát: Luận văn tiến hành khảo sát toàn bộ người lao động của Vietinbank – Chi nhánh Cao Bằng. Theo đó, số lượng người lao động được phát phiếu khảo sát là 62 (do trong số 65 người lao động hiện tại của chi nhánh, có 3 người là ban giám đốc ngân hàng). + Cách thức khảo sát: Luận văn tiến hành khảo sát trực tiếp người lao động tại Vietinbank – Chi nhánh Cao Bằng trong các ngày làm việc trong tuần. Với 62 phiếu phát ra, luận văn thu được 61 phiếu khảo sát đảm bảo chất lượng để tiến hành phân tích.
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu - Về phương pháp xử lý số liệu: Số liệu sau khi thu thập được nhập liệu và tính toán, xử lý thông qua phần mềm SPSS. - Về phương pháp phân tích số liệu: + Phương pháp thống kê so sánh: Phương pháp này được sử dụng sau khi số liệu đã thu thập được, được tổng hợp, phân tích và tiến hành so sánh giữa năm các năm trong giai đoạn nghiên cứu. + Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp này được sử dụng để mô tả những đặc điểm về số liệu liên quan đến công tác tạo động lực cho nhân viên tại Vietinbank – Chi nhánh Cao Bằng. Bên cạnh đó, phương pháp này được sử dụng để mô tả đánh giá của người lao động đối với các công tác tạo động lực tại chi nhánh thông qua tỷ lệ phần trăm và giá trị trung bình.
Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được trình bày gồm 3 chương chính: 5 Chương 1: Những vấn đề lý luận về tạo động lực làm việc cho người lao động trong các doanh nghiệp; Chương 2: Thực trạng tạo động lực làm việc cho người lao động tại Ngân hàng Thương mại Cổ phẩn Công thương Việt Nam – Chi nhánh Cao Bằng; Chương 3: Giải pháp tạo động lực làm việc cho người lao động tại Ngân hàng Thương mại Cổ phẩn Công thương Việt Nam – Chi nhánh Cao Bằng. 6 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHỆP 1. Khái quát về động lực làm việc của ngƣời lao động trong doanh nghiệp 1. Khái niệm động lực làm việc và tạo động lực làm việc cho người lao động 1.
Khái niệm động lực làm việc Theo Nguyễn Thị Minh Hòa (2015), động lực là cấu trúc đại diện cho nguồn động lực bên trong không dễ nhận ra của con người làm tác động và nảy sinh hành vi phản hồi, định hướng trực tiếp cho sự phản hồi đó. Một động lực không thể nhìn thấy và sự tồn tại của động lực chỉ có thể được suy luận ra từ hành vi của mỗi cá nhân. Động lực đó là lý do tại sao một cá nhân làm điều gì đó. Khi các động lực thúc đẩy trở nên mạnh mẽ, chúng vẫn phụ thuộc vào hoàn cảnh.
Hay nói cách khác: “Động lực là nhu cầu đã trở nên bức thiết đến mức buộc con người phải hành động để thỏa mãn nó. Nó là động lực gây sức ép, thúc đẩy con người hành động để thỏa mãn một nhu cầu hoặc ước muốn nào đó về vật chất hoặc tinh thần hoặc cả hai. Do vậy, nắm bắt được động lực của người tiêu dùng đồng nghĩa với việc nắm bắt được cái thực sự họ tìm mua và muốn thỏa mãn” (Nguyễn Thị Minh Hòa, 2015). Ở góc độ người lao động, động lực lao động chính là các yếu tố bên trong người lao động, thúc đẩy người lao động làm việc, nó bắt nguồn từ nhu cầu bản thân, gia đình và xã hội.