phần mở đầu, danh mục từ viết tắt, bảng biểu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục thì kết cấu Đề án gồm 3 phần chính: PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN PHẦN 2: NỘI DUNG ĐỀ ÁN PHẦN 3: CÁC ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ 5 PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1.1 Các khái niệm và lý thuyết tạo động lực 1. Khái niệm động lực Động lực là thuật ngữ khá quen thuộc và được nhắc đến trong cả nghiên cứu cũng như trong thực tiễn. Theo tác giả Trần Xuân Cầu (2012) “Động lực là mức độ hưng phấn ở mỗi người khi tham gia vào quá trình làm việc, đó chính là động cơ mạnh thúc đẩy con người làm việc một cách tích cực, chủ động và sáng tạo”. Như vậy, động lực được coi là chất xúc tác giúp con người có thể làm tốt hơn những gì ở hiện tại, qua đó con người đạt được mục tiêu của mình.
Vai trò của động lực rất lớn bởi nó chính là yếu tố giúp định hướng, thúc đẩy và duy trì hành vi của một con người theo chủ đích, nhằm đạt tới mục tiêu cụ thể. Động lực ở mỗi người sẽ khác nhau và nó được cấu thành bởi các nhu cầu liên quan tới cảm xúc, bản năng, nhu cầu xã hội hay sinh lý. Dưới góc độ nghiên cứu của đề án thì: Động lực chính là sức mạnh của người lao động nó thúc đẩy người lao động có nhiều năng lượng tích cực hơn để đạt được mục tiêu xác định. Khái niệm về động lực làm việc Động lực (tiếng Anh là Motivation) là những nhân tố thúc đẩy mỗi cá nhân cố gắng, nỗ lực thực hiện nhiệm vụ của mình để đạt mục tiêu đã đề ra.
Động lực là một trong những yếu tố cần có trong mỗi con người để họ có thể gặt hái được thành công và hạnh phúc trong cuộc sống. Người lao động (NLĐ) trong doanh nghiệp làm việc không phải chỉ dựa vào năng lực của bản thân mà còn phải dựa trên động lực làm việc của họ, nghĩa là dựa trên sự khát khao và tự nguyện được cống hiến hết khả năng cho sự phát triển của doanh nghiệp qua đó thỏa mãn nhu cầu và mục tiêu cá nhân. Theo FredericHerzberg (1959), về động lực làm việc “Động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”. Tác giả cho rằng, động lực làm việc của cá nhân không tự nhiên xuất hiện mà do sự vận động đồng thời từ các nguồn lực thuộc chính bản thân người lao động, môi trường sống và làm việc của họ tạo ra.
Sự ủng hộ và tạo điều kiện từ tổ chức giúp người lao động mong muốn, tự nguyện cống hiến cho mục tiêu chung và từ đó giúp họ đạt được mục tiêu cá nhân. Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2013, 232), “Động lực làm việc của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong 6 điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Có thể hiểu những nhân tố bên trong là những nhân tố bên trong tổ chức như văn hóa doanh nghiệp, phong cách lãnh đạo, cơ cấu tổ chức… Những nhân tố này tác động đến người lao động, kích thích người lao động nỗ lực làm việc, cống hiến cho tổ chức”. Như vậy, động lực làm việc có thể hiểu như sau: Động lực làm việc chính là nhân tố thúc đẩy người lao động làm việc tích cực, hăng say để đạt được mục tiêu trong sự nghiệp và của tổ chức họ làm việc Động lực làm việc gắn liền với công việc và tổ chức doanh nghiệp.
Mỗi NLĐ khi làm việc trong tổ chức đều cần phải thực hiện những công việc cụ thể. NLĐ đảm nhận những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Nếu không có động lực làm việc NLĐ vẫn có thể hoàn thành công việc. Tuy nhiên, khi NLĐ khao khát, mong muốn, tự nguyện làm việc thì năng suất và hiệu quả công việc đạt được sẽ cao hơn.
Bất cứ NLĐ nào khi làm việc trong tổ chức đều hướng tới mục tiêu nhất định. Vấn đề để NLĐ tự nguyện theo các định hướng của tổ chức thì cần phải cho họ thấy rõ mục tiêu, lợi ích cá nhân mà họ đạt được khi mục tiêu và lợi ích của tổ chức đạt được. Có nghĩa là phải hướng mục tiêu, lợi ích của cá nhân theo định hướng mục tiêu của tổ chức. Động lực làm việc không phải là đặc điểm tính cách cá nhân.
Điều đó có nghĩa là không có người có động lực và người không có động lực. Nó có thể thay đổi theo các yếu tố khách quan trong công việc. Tại thời điểm này có thể NLĐ có động lực làm việc cao nhưng tại thời điểm khác động lực lao động trong họ có thể không còn. Trong trường hợp các yếu tố khác không đổi, động lực làm việc sẽ dẫn tới năng suất, hiệu quả công việc cao.
Tuy nhiên, động lực không phải là tất cả yếu tố dẫn đến năng suất, hiệu quả công việc bởi vì để thực hiện công việc còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như năng lực cá nhân, phương tiện và các nguồn lực thực hiện công việc. Trong doanh nghiệp hiện nay, việc coi nguồn lao động là động lực của doanh nghiệp. Các nhà quản lý luôn đặt ra câu hỏi, làm thế nào để nâng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, làm sao để NLĐ làm việc đạt được năng suất lao động cao nhất. Trong thực tế, các nhà quản trị quan sát một tập thể NLĐ làm việc thường đặt ra câu hỏi, tại sao họ cùng làm một công việc trong điều kiện làm việc như nhau nhưng lại có người làm việc nghiêm túc và đạt hiệu quả cao người khác thì ngược lại.
Để trả lời những câu hỏi đó, các nhà kinh tế đã phát hiện ra hệ thống nhu cầu và lợi ích của NLĐ tạo ra động cơ, động lực cho họ trong quá trình lao động. Khái niệm về tạo động lực làm việc Tạo động lực làm việc là quá trình vận dụng các chính sách, biện pháp, cách thức quản lí tác động tới người lao động, tác động tới môi trường làm việc và các mối quan hệ xung quanh nhằm làm cho người lao động có động lực làm việc, hài lòng hơn với công việc. Từ đó họ sẽ phát huy hết khả năng để thực hiện công việc được giao, đạt mục tiêu của doanh nghiệp, đáp ứng làm thỏa mãn nhu cầu, gia tăng sự thỏa mãn công việc của người lao động và độ gắn kết của người lao động với doanh nghiệp. Chính sách tạo động lực làm việc là công cụ quan trọng trong việc duy trì và thúc đẩy NLĐ làm việc hiệu quả.
Theo giáo trình Hành vi tổ chức của tác giả Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2013,87): “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong lao động”. Theo Mai Thanh Lan, Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016,231): “Tạo động lực làm việc là quá trình xây dựng, triển khai thực hiện và đánh giá các chương trình, biện pháp tác động vào những mong muốn, khát khao của người lao động nhằm thúc đẩy họ làm việc đạt được các mục tiêu của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp”. Nếu hiểu chức năng lãnh đạo trong quản trị bao gồm các hoạt động nhằm thúc đẩy mọi người thực hiện công việc cần thiết để hoàn thành mục tiêu của tổ chức (Robbins và Decenzo (2004)) thì ở đây tạo động lực làm việc chính là một phần quan trọng trong lãnh đạo nhân lực giúp khai thác có hiệu quả và triệt để nhân lực của tổ chức. Từ các khái niệm tạo động lực làm việc Đề án cho rằng: Tạo động lực làm việc là quá trình nhà quản trị doanh nghiệp tác động tới người lao động thông qua quá trình xác định nhu cầu, mong muốn của người lao động làm cơ sở phân loại nhu cầu và đưa ra các biện pháp tạo động lực giải quyết các nhu cầu của người lao động để họ có thể làm việc chủ động, sáng tạo hiện thực hóa mục tiêu của cá nhân và doanh nghiệp đã đề ra.
Các lý thuyết tạo động lực cơ bản Một là, thuyết nhu cầu của Abarahm Maslow Nhà tâm lý học người mỹ Abraham Maslow (1943) cho rằng còn người có rất nhiều nhu cầu khác nhau mà họ cần được thỏa mãn. Từ nhận định đó Maslow đã chia các nhu cầu của con người thành năm nhóm và sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao bao gồm lần lượt các nhu cầu sau: nhu cầu sinh lý; nhu cầu an toàn; nhu cầu xã hội; nhu cầu tôn trọng; nhu cầu hoàn thiện. Maslow cho rằng khi mỗi một nhu cầu trong số các nhu 8 cầu đó được thỏa mãn thì nhu cầu tiếp theo trở lên quan trọng. Sự thỏa mãn nhu cầu của cá cá nhân sẽ đi theo thứ bậc như trên và mặc dù không có nhu cầu nào được thỏa mãn hoàn toàn, nhưng một nhu cầu được thỏa mãn về cơ bản thì không còn tạo ra động lực.
Trong thực tế muốn tạo động lự cho người lao động các nhà quản lý cần hiểu được cấp bậc nhu cầu hiện tại của người lao động, từ đó sử dụng những biện pháp nhằm hướng vào những nhu cầu đó để người lao động có động lực, quyết tâm và cố gắng làm việc để đạt được mục tiêu mà tổ chức đã đề ra. Hai là, thuyết 2 nhân tố của Frederick Herzberg Lý thuyết gia quản trị người Hoa Kỳ, Frederick Herzberg (1959) chia các yếu tố tạo động lực cho người lao động thành hai loại: yếu tố duy trì - thuộc về sự thỏa mãn bên ngoài và yếu tố thúc đẩy - thỏa mãn bản chất bên trong, Nhóm thứ nhất chỉ có tác dụng duy trì trạng thái làm việc bình thường. Mọi nhân viên đều mong muốn nhận được tiền lương tương xứng với sức lực của họ, công ty được quản trị một cách hợp lý và điều kiện làm việc của họ được thoải mái. Khi các yếu tố này được thỏa mãn, đôi khi họ coi đó là điều tất nhiên.
Nhưng nếu không có chúng, họ sẽ trở nên bất mãn và hiệu suất làm việc giảm sút. Tập hợp các yếu tố thứ hai là những yếu tố có tác dụng thúc đẩy thật sự, liên quan đến bản chất công việc. Khi thiếu vắng các yếu tố thúc đẩy, người công nhân sẽ biểu lộ sự không hài lòng, lười biếng và thiếu sự thích thú làm việc. Những điều này gây ra sự bất ổn về mặt tinh thần.