Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NHÂN VIÊN 1. Một số khái niệm cơ bản 1.1 Động lực Theo Maier và Lawler (1973), động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân, họ đã đưa ra mô hình và kết quả thực hiện của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = khả năng x động lực Khả năng = khả năng bẩm sinh x đào tạo x các nguồn lực Động lực = khao khát x tự nguyện Động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con người. Khi con người ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu, mong muốn khác nhau. Chính vì những đặc điểm này nên động lực của mỗi con người là khác nhau vì vậy nhà quản lý cần có những cách tác động khác nhau đến mỗi người lao động.2 Động lực làm việc Có rất nhiều định nghĩa về động lực làm việc.
Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2004) thì động lực làm việc là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới mục tiêu, kết quả nào đó. Định nghĩa về động lực làm việc của Herzberg (1959) trong tác phẩm “The motivation to work” cho rằng: “Động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”. Như vậy có thể hiểu động lực làm việc như sau: Động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của mỗi con người nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được những mục tiêu của cá nhân và của tổ chức. 5 Động lực làm việc được thể hiện thông qua các công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức.
Động lực làm việc không phụ thuộc hoàn toàn vào những đặc tính cá nhân nó có thể thay đổi thường xuyên và phụ thuộc vào các nhân tố khách quan trong công việc. Vào những thời điểm khác nhau một người lao động có thể có động lực làm việc cao hay thấp khác nhau. Động lực làm việc mang tính chất tự nguyện phụ thuộc vào bản thân người lao động, họ thường làm việc tích cực, chủ động khi họ cảm thấy không có căng thẳng hay sức ép trong công việc. Ngược lại, nếu người lao động cảm thấy có sức ép cao, bị bắt buộc thì động lực của họ sẽ giảm đi rất nhiều.
Chỉ khi người lao động làm việc hăng say thì năng suất lao động mới đat mức tối ưu. Vì vậy, tạo động lực là sự vận động một hệ thống chính sách, biện pháp, cách thức quản lý, ảnh hưởng tới người lao động làm cho họ có động lực, hài lòng hơn trong công việc, và mong muốn được đóng góp cho tổ chức.3 Nhân viên kinh doanh Nhân viên kinh doanh là các cá nhân bán hàng hóa và dịch vụ cho các doanh nghiệp, Nhân viên kinh doanh có nhiệm vụ tiếp xúc trực tiếp với khách và tư vấn giúp khách hàng lựa chọn được những sản phẩm – dịch vụ phù hợp. Giải đáp các thắc mắc về các sản phẩm, dịch vụ, thuyết phục khách hàng mua hàng giúp tăng doanh thu cho công ty.4 Công ty tài chính Công ty Tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư, cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 01 năm (Chính phủ, 2008). Một số lý thuyết liên quan đến nhu cầu cá nhân và động lực làm việc 1.
Thuyết công bằng của Adams (1963) J. Stacey Adams cho rằng nhân viên có xu hướng đánh giá sự công bằng bằng cách so sánh chi phí họ bỏ ra so với những thứ họ nhận được cũng như so sánh tỷ lệ đó của những đồng nghiệp trong công ty. Nếu kết quả của sự so sánh là ngang bằng nhau tức công bằng thì họ sẽ tiếp tục duy trì nỗ lực và hiệu suất làm việc của mình. Nếu thù lao nhận được vượt qua mong đợi, họ sẽ có xu hướng gia tăng công sức của họ trong công việc, ngược lại nếu thù lao nhận được thấp hơn so với đóng góp của họ, họ sẽ có xu hướng giảm bớt nỗ lực hoặc tìm các giải pháp khác nhau vắng mặt trong giờ làm việc.
Trong nghiên cứu ứng dụng, lý thuyết này được xem xét ở gốc độ là một nhân viên không thể có động lực làm việc nếu họ nhận ra rằng mình bị đối xử không công bằng từ vấn đề lương bổng, cơ hội đào tạo thăng tiến đến sự hỗ trợ từ cấp trên.2 Mô hình mười yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên Mô hình này được nghiên cứu phát triển bởi Kenneth S. Kovach (1987), bao gồm các yếu tố như sau: (1) Công việc thú vị: Thể hiện sự đa dạng, sáng tạo, thách thức của công việc và cơ hội để sử dụng năng lực cá nhân. (2) Được công nhận đầy đủ công việc đã làm: Thể hiện sự ghi nhận hoàn thành tốt công việc, ghi nhận góp phần vào sự thành công của công ty. (3) Sự tự chủ trong công việc: Thể hiện nhân viên được quyền kiểm soát và chịu trách nhiệm với công việc, được khuyến khích tham gia vào các quyết định liên quan đến công việc và được khuyến khích đưa ra những sáng tạo.
(4) Công việc ổn định: Thể hiện công việc ổn định, không phải lo lắng đến việc giữ việc làm. 7 (5) Lương cao: Thể hiện nhân viên được nhận tiền lương tương xứng với kết quả làm việc, lương đảm bảo cuộc sống cá nhân và được thưởng hoặc tăng lương khi hoàn thành tốt công việc. (6) Sự thăng tiến và phát triển nghề nghiệp: Thể hiện những cơ hội thăng tiến và phát triển trong doanh nghiệp. (7) Điều kiện làm việc tốt: Thể hiện vấn đề an toàn, vệ sinh và thời gian làm việc.
(8) Sự gắn bó của cấp trên với nhân viên: Nhân viên luôn được tôn trọng và tin cậy, là một thành viên quan trọng của công ty. (9) Xử lý kỹ thuật khéo léo, tế nhị: Thể hiện sự tế nhị, khéo léo của cấp trên trong việc góp ý, phê bình nhân viên. (10) Sự giúp đỡ của cấp trên để giải quyết những vấn đề cá nhân: Thể hiện sự quan tâm, hỗ trợ của cấp trên trong giải quyết các vấn đề cá nhân, các khó khăn của nhân viên. Mô hình mười yếu tố này sau khi công bố đã được phổ biến rộng rãi và được nhiều nhà nghiên cứu kiểm định nhằm khám phá ra các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc cho nhân viên trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quốc gia khác nhau.3 Thuyết nhu cầu của Maslow Thuyết nhu cầu của Maslow được đánh giá là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người.
Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được sắp xếp theo một thứ tự từ thấp đến cao. Cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành 5 bậc sau: 8 Nhu cầu tự khẳng định mình Nhu cầu được Nhu cầu xã hội (tình cảm, giao lưu,. Nhu cầu an toàn ( được bảo vệ, yên ổn,.) Nhu cầu sinh tồn (ăn, uống, thở, duy trì nòi giống,.1 : Hệ thống câp bậc nhu cầu của Maslow (Nguồn: Thang nhu cầu của Maslow, 1943) Nhu cầu sinh tồn: Bao gồm những nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,. đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người.
Trong hình kim tự tháp, những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất. Nhu cầu an toàn: Khi các nhu cầu cơ bản của con người đã được đáp ứng, thì các nhu cầu này không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa. Khi đó các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt. Nhu cầu an toàn là được sống trong môi trường an toàn sinh mạng.
9 Nhu cầu xã hội: Là nhu cầu mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó trong xã hội hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương. Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp có thể là việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi chơi picnic, làm việc nhóm, đi làm việc, tham gia các câu lạc bộ, … Nhu cầu được tôn trọng: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng vì nó thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý trọng, ngưỡng mộ bằng các thành quả của bản thân đạt được, và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân. Việc đáp ứng và đạt được nhu cầu này cá nhân sẽ làm việc tốt hơn công việc được giao. Nhu cầu tự khẳng định: Là các nhu cầu như chân, thiện, mỹ, tự chủ, muốn sáng tạo, hài hước, được thể hiện khả năng và được công nhận thành đạt,.
Theo Maslow, con người thường hành động theo nhu cầu, chính sự thỏa mãn nhu cầu làm họ hài lòng và khuyến khích họ hành động. Vì thế, nếu muốn thúc đẩy một người nào đó thì chúng ta nên hiểu người đó đang ở cấp bậc nhu cầu nào của sự phân cấp và tập trung làm thỏa mãn các nhu cầu ở cấp độ đó hoặc cấp độ cao hơn. Nếu một nhu cầu về căn bản mà không được thỏa mãn thì không tạo động lực. Từ lý thuyết này, các chuyên gia quản lý muốn tạo động lưc cho nhân viên thì phải biết nhân viên của họ ở cấp bậc nhu cầu nào để đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm thỏa mãn nhu cầu nhân viên, đồng thời đảm bảo đạt được các mục tiêu của tổ chức.4 Thuyết nhu cầu của Mc Clelland (1988) David McCleland cho rằng con người có ba nhu cầu cơ bản: Nhu cầu thành tích, nhu cầu quyền lực và nhu cầu liên minh.
Nhu cầu thành tích: Một người có nhu cầu thành tích thường mong muốn hoàn thành những mục tiêu có tính thách thức bằng nỗ lực của mình, thích thành công khi cạnh tranh và cần nhận được phản hồi về kết quả công việc của mình một cách rõ ràng.