PHẦN MỞ ĐẦU Trong chương này, tác giả đề cập tới lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NÂNG CAO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC. Chương này gồm những nội dung: khái niệm về động lực làm việc, các lý thuyết về động lực làm việc, một số mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động trọng và ngoài nước. Đề xuất mô hình nghiên cứu cho đề tài.
Chương 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NHÂN VIÊN TẠI CÔNG TY TNHH Ô TÔ TOYOTSU SAMCO-LEXUS TRUNG TÂM SÀI GÒN. Chương này sẽ giới thiệu về cơ cấu tổ chức tại công ty TNHH Ô tô Toyotsu Samco- Lexus Trung Tâm Sài Gòn và thực trạng động lực làm việc hiện tại của nhân viên tại công ty và công tác tạo động lực làm việc thông qua các yếu tô đã xây dựng ở 12 chương trước. Chương 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NHÂN VIÊN TẠI CÔNG TY TNHH Ô TÔ TOYOTSU SAMCO - LEXUS TRUNG TÂM SÀI GÒN. Từ thực trạng về tạo động lực làm việc của nhân viên tại Công ty TNHH Ô tô Toyotsu Samco- Lexus Trung Tâm Sài Gòn đã được đánh giá ở chương 3, đưa ra các giải pháp nâng cao động lực làm việc của nhân viên.
13 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 2. Tổng quan về lý thuyết 2. Khái niệm về động lực làm việc Trong giai đoạn hiện nay nguồn nhân lực của tổ chức đóng vai trò hết sức quan trọng, đó là nhân tố quyết định nên sự thành bại trong kinh doanh của tổ chức. Vấn đề tạo động lực trong lao động là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản trị nhân sự trong doanh nghiệp, nó thúc đẩy người lao động hăng say làm việc nâng cao năng suất lao động.
Có nhiều những quan niệm khác nhau về tạo động lực trong lao động nhưng đều có những điểm chung cơ bản nhất. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về động lực làm việc: Theo Vroom (1964) động lực là trạng thái hình thành khi người lao động kỳ vọng rằng họ sẽ nhận được kết quả, phần thưởng như mong muốn nếu họ nỗ lực thực hiện công việc. Theo Mitchell (1982) ông cho rằng: Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình. Theo Robbins (1993) Động lực là sự sẵn sàng để phát huy nỗ lực đạt mục tiêu cao nhất của tổ chức, với điều kiện là tổ chức phải có khả năng đáp ứng một số nhu cầu cá nhân.
Theo Mullins (2007) Động lực có thể được định nghĩa như là một động lực bên trong có thể kích thích cá nhân nhằm đạt mục tiêu để thực hiện một số nhu cầu hoặc mong đợi. Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2012) định nghĩa: “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”. 14 Theo Bùi Anh Tuấn (2009) đưa ra khái niệm: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lưc, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”.
Suy cho cùng động lực trong lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động mà ra. Như vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tạo ra được động lực để người lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức. Có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về động lực lao động: Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động.
Vấn đề tạo động lực lao động cho nhân lực nói chung và cho người lao động trong tổ chức nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Có thể hiểu rằng tạo động lực lao động chính là việc các nhà quản trị vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp cách thức quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho nhân viên có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức, doanh nghiệp. Từ đó, động lực làm việc xuất phát từ bản thân mỗi nhân viên, là sự khát khao, tự nguyện kích thích người lao động nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép để đạt được mục tiêu. Như vậy, động lực làm việc có những đặc điểm sau: Động lực làm việc đi cùng với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể.
Mỗi nhân viên đảm nhiệm những vị trí công việc khác nhau để những động lực làm việc tích cực khác nhau hơn. Động lực làm việc không hẳn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách mỗi người, nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc. 15 Động lực làm việc có tính tự nguyện dựa trên bản thân người nhân viên và giúp nhà lãnh đạo khai thác được tiềm năng của nhân viên mình trong quá trình làm việc. Động lực là việc đóng vai trò rất quan trọng trong sự gia tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi.
Tuy nhiên động lực làm việc chỉ là nguồn gốc chứ không phải là điều kiện để tăng năng suất lao động bởi vì điều này còn phụ thuộc vào trình độ, chuyên môn và kỹ năng của người nhân viên, và trình độ khoa học công nghệ của dây chuyền sản xuất. Các lý thuyết về động lực làm việc 2. Thuyết hai yếu tố của Frederick Herzberg (1959) Sự không thoả mãn Thuyết hai yếu tố Sự thoả mãn với công với công việc của Herzberg việc Cải thiện các yếu Bị ảnh hưởng bởi các Bị ảnh hưởng bởi các tố động viên làm yếu tố động viên yếu tố duy trì tăng sự thoả mãn công việc 1. Điều kiện làm việc 1.
Sự thành đạt 2. Quan hệ với đồng 2. Sự công nhận nghiệp Cải thiện các yếu 3. Trách nhiệm 3.
Chính sách và quy tố duy trì làm 4. Đặc điểm công tắc giảm sự bất mãn việc 4. Chất lượng giám sát trong công việc 5. Sự thăng tiến …… …….1: Các thành phần trong thuyết hai yếu tố của Herzberg Nguồn: Nguyễn Hùng Phong và các cộng sự (2015, trang 348).
Frederick Herzberg (1966) phát triển thuyết của mình dựa trên phân tích mối quan hệ của cá nhân đối công việc và thái độ hướng đến công việc, điều này sẽ xác 16 định được sự thành công hay thất bại đối với cá nhân đó. Herberzg xác định không chỉ tồn tại hai trạng thái thỏa mãn hay bất mãn ở nhân viên mà bên cạnh đó còn có các nhân tố bên trong (nhân tố thúc đẩy) và nhân tố bên ngoài (nhân tố duy trì), những nhân tố này ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên trong mối quan hệ giữa công việc và thái độ của họ. Yếu tố duy trì (Hygime factor): Khi các yếu tố này được cải thiện có thể làm cho người lao động giảm bất mãn tại nơi làm việc, nhưng sẽ không tăng sự thoả mãn trong công việc và tạo ra sự động viên. Liên quan đến sự không thoả mãn về công việc theo hướng khi những yếu tố duy trì này được cảm nhận là thấp thì sự không thoả mãn với công việc sẽ cao.
Bao gồm: điều kiện làm việc; quan hệ với đồng nghiệp; chính sách và quy tắc; chất lượng giám sát; tiền lương;… Yếu tố động viên (Motivator factor): Mức độ của các nhân tố thoả mãn trong công việc càng cao thì sự động viên càng lớn từ đó nó tạo ra các cơ hội để thoả mãn nhu cầu bậc cao. Các yếu tố duy trì cần có trước thì các yếu tố động viên mới có tác động. Bao gồm: sự thành đạt, sự công nhận, trách nhiệm, đặc điểm công việc, sự thăng tiến,… Thuyết hai yếu tố có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhà quản trị trên các phương diện sau: Thứ nhất, Những yếu tố đáp ứng đầu đủ những yêu cầu nhân viên khác với các yếu tố tạo ra sự bất mãn. Vì vậy, nhà quản trị không thể mong đợi nguyện vọng của nhân viên bằng cách đơn giản là xoá bỏ các nguyên nhân gây ra sự bất mãn.
Thứ hai, việc khuyến khích tinh thần nhân viên đòi hỏi phải giải quyết thoả đáng, đồng thời cả hai nhóm yếu tố duy trì và động viên. Thứ ba, người quản lý cần tạo điều kiện giúp nhân viên làm việc thông qua các yếu tố động viên. Các yếu tố duy trì cần đạt đến một mức độ nào đó trước, để đảm bảo sự động viên không bị giảm đi, phải tập trung vào các yếu tố động viên. Nhiều nhà quản lý đã cố gắng dùng các yếu tố duy trì để khuyến khích và điều đó là không hiệu quả.
Lý thuyết của David Mc. Clelland David Mc. Clelland (dẫn theo Pobbins, 2002) cho rằng con người có ba nhu cầu trọng yếu là: nhu cầu thành tựu, nhu cầu liên minh và nhu cầu quyền lực. Trong đó: Nhu cầu thành tựu Người có nhu cầu thành tựu cao là người luôn hướng tới việc giải quyết công việc tốt hơn, vượt qua các khó khăn, trở ngại và cảm thấy thành công hay thất bại của họ chính từ kết quả của những hành động của họ.
Điều này có nghĩa là họ thích các công việc mang tính thách thức với đặc tính chung như: - Xu hướng đặt ra các mục tiêu cao cho chính họ. - Lòng mong muốn thực hiện các trách nhiệm cá nhân. - Nhanh chóng, sớm làm chủ công việc của họ - Nhu cầu cao về sự phản hồi cụ thể, ngay lập tức. Nhu cầu quyền lực Là nhu cầu kiểm soát và tác động đến người khác và môi trường làm việc của họ.
Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng người có nhu cầu quyền lực mạnh và nhu cầu thành tựu có xu hướng trở thành các nhà quản trị. Họ là những người muốn có quyền lực mạnh nhất, tiếp đến là nhu cầu thành tựu và cuối cùng là nhu cầu liên minh. Nhu cầu liên minh Cũng giống như nhu cầu xã hội của A. Maslow, đó là được chấp nhận tình yêu, bạn bè, etc.