CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG TỔ CHỨC 1.1 Khái niệm động lực làm việc 1.1 Định nghĩa Theo Robbins (1998) thì động lực làm việc là sự sẵn lòng cố gắng ở mức độ cao nhằm hướng đến mục tiêu của tổ chức trong điều kiện một số nhu cầu cá nhân được thỏa mãn theo khả năng nỗ lực của họ. Ba yếu tố quan trọng được đề cập đến trong định nghĩa trên là sự cố gắng, mục tiêu của tổ chức và nhu cầu cá nhân. Theo Trần Kim Dung và Nguyễn Ngọc Lan Vy (2001) thì động lực làm việc được hiểu là xu hướng cùng sự cố gắng nhằm đạt được mong muốn hoặc mục tiêu nhất định. Theo Phước Minh Hiệp, Huỳnh Văn Thọ và Trần Thị Kim Hoàng (2018) thì động lực làm việc là những nhân tố bên trong, kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực làm việc là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như cá nhân. Từ những khái niệm trên có thể thấy dù có nhiều định nghĩa khác nhau về động lực làm việc, nhưng nhìn chung động lực làm việc được tạo ra từ sự mong muốn của cá nhân để thỏa mãn nhu cầu, thúc đẩy nỗ lực của cá nhân để đạt được mục tiêu của tổ chức thông qua việc thỏa mãn các nhu cầu cá nhân. Động lực làm việc là sự hăng hái, nhiệt tình trong quá trình thực hiện công việc, làm cho công việc được hoàn thành một cách có hiệu quả cao. Tạo động lực làm việc là quá trình tác động đến người lao động làm tăng sự hứng thú, khơi dậy niềm đam mê, nhiệt tình của cá nhân thúc đẩy họ làm việc nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức.2 Vai trò của động lực làm việc Tạo động lực làm việc đóng vai trò lớn trong việc quản lý nguồn lực và duy trì sự tồn tại của tổ chức.
Như vậy, động lực làm việc có vai trò rất quan trọng: 7 - Đối với người lao động: + Giúp nâng cao năng suất lao động: động lực làm việc giúp con người yêu thích và nhiệt tình làm việc, qua đó làm tăng năng suất và hiệu quả làm việc. + Thúc đẩy sự sáng tạo: làm việc với sự yêu thích, thoải mái là môi trường tốt để phát huy tính sáng tạo của con người. + Tạo sự gắn kết với tổ chức: yêu thích công việc sẽ xây dựng lòng yêu thích với tổ chức, tạo sự gắn kết bền vững. + Thôi thúc hoàn thiện bản thân: đạt được thành quả trong công việc giúp người lao động nhận ra được giá trị của họ, nỗ lực phấn đấu hoàn thiện bản thân.
- Đối với tổ chức: + Sử dụng hiệu quả và khai thác tối ưu nguồn nhân lực của tổ chức. + Thu hút và giữ chân nhân tài, xây dựng đội ngũ nhân lực giỏi, tài năng. + Đem lại môi trường làm việc vui vẻ, thoải mái, xây dựng văn hóa tổ chức đặc thù, tạo dựng hình ảnh đẹp, nâng cao uy tín của tổ chức.2 Các học thuyết về động lực làm việc Bartol và Martin (1988) chia lý thuyết về động lực làm việc thành 3 nhóm: - Thuyết nhu cầu - Thuyết nhận thức - Thuyết củng cố 1.1 Học thuyết về nhu cầu 1.1 Thuyết nhu cầu của Maslow (1943) Năm 1943, nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) đã phát triển một lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đó là lý thuyết về thang bậc nhu cầu của con người. Theo đó, ông sắp xếp nhu cầu của con người theo thứ bậc từ thấp đến cao, trong đó các nhu cầu bậc cao hơn chỉ xuất hiện khi nhu cầu bậc thấp hơn đã được thỏa mãn.
Nhu cầu sinh học: là nhu cầu ăn, uống, mặc, ở, duy trì nòi giống giúp duy trì cuộc sống, đảm bảo sự tồn tại của con người. Thiếu những nhu cầu này con 8 người không thể tồn tại, nếu nhu cầu này chưa được thỏa mãn thì những nhu cầu khác không thể xuất hiện được. Nhu cầu về an toàn: là nhu cầu có cuộc sống an toàn và được bảo đảm về gia đình, sức khỏe, công việc, tài sản. xuất hiện khi nhu cầu sinh học được đáp ứng đầy đủ.
Nhu cầu xã hội: là những nhu cầu về tình cảm, các mối quan hệ, muốn là thành viên của một tổ chức, được quan tâm, chia sẻ, xuất hiện khi nhu cầu an toàn được thỏa mãn. Nhu cầu được tôn trọng: là nhu cầu tôn trọng và được tôn trọng, được tổ chức nhìn nhận, đánh giá cao. Nhu cầu tự thể hiện: là những nhu cầu về cái đẹp, tự chủ, sáng tạo, phát triển toàn diện, hướng đến sự tự chủ và sáng tạo của bản thân.2 Thuyết hai nhân tố của F.Herberg (1959) Năm 1959, Herberg phát triển lý thuyết động viên gồm hai nhân tố: động viên và duy trì. Nhân tố động viên: là nhân tố thể hiện sự thỏa mãn như cảm giác về thành tựu, công nhận, cơ hội thăng tiến.
Mức độ động viên tỷ lệ thuận với các nhân tố thỏa mãn trong công việc, động viên công việc càng cao khi các nhân tố thỏa mãn trong công việc càng nhiều. Nếu giải quyết tốt vấn đề trên sẽ tạo ra sự thỏa mãn và giải quyết không tốt sẽ gây ra tình trạng không thỏa mãn chứ chưa chắc bất mãn. Nhân tố duy trì: là các nhân tố như điều kiện làm việc, nội quy cơ quan, quan hệ giữa các cá nhân trong công tác, phương pháp điều hành, lương, thưởng, phúc lợi. Mức độ bất mãn của các cá nhân trong công việc tỷ lệ nghịch với các nhân tố duy trì, các nhân tố duy trì đi xuống thì sự bất mãn tăng lên.
Các nhân tố này được giải quyết tốt thì tạo ra trạng thái không bất mãn, nhưng chưa chắc là thỏa mãn. Giải quyết hiệu quả cùng lúc cả hai nhóm nhân tố sẽ tạo động lực làm việc cho người lao động.3 Thuyết nhu cầu thành đạt của McClelland (1961) McClelland (1961) cho rằng con người có 3 nhu cầu: thành tựu, quyền lực và liên minh. Nhu cầu thành tựu: thể hiện mong muốn làm việc tốt hơn, thích làm công việc mang tính thách thức, cạnh tranh cao, thích thể hiện tài năng, chấp nhận rủi ro, sẵn sàng làm việc một mình. Nhu cầu quyền lực: là mong muốn bản thân có thể ảnh hưởng, kiểm soát đến con người và tài nguyên, thích những cạnh tranh mà họ có thể thắng.
Nhu cầu liên minh: người có nhu cầu này mong muốn có mối quan hệ gần gũi và thân thiện với mọi người xung quanh, thích tham gia các hoạt động xã hội, đồng thời thích giúp đỡ mọi người. Qua đó, nhà quản trị nắm rõ các đặc điểm này để phân công công việc, tạo điều kiện cho người lao động phát huy tốt nhất năng lực của mình, giúp họ hoàn thành tốt nhiệm vụ và phát triển toàn diện.4 Thuyết ERG của Clayton Alderfer (1969) Clayton Alderfer khởi xướng thuyết ERG, ông cho rằng nhu cầu con người gồm 3 nhóm: nhu cầu tồn tại (gồm nhu cầu sinh lý và an toàn), nhu cầu quan hệ (nhu cầu xã hội) và nhu cầu phát triển (gồm nhu cầu được tôn trọng và tự thể hiện). Khác với mô hình của Maslow, theo Alderfer con người có thể có nhiều nhu cầu khác nhau trong cùng một thời điểm, và sự phát sinh các nhu cầu cũng không theo thứ bậc cụ thể. Theo thuyết ERG khi nhu cầu ở bậc cao hơn không được đáp ứng, con người sẽ quay trở về mức nhu cầu thấp hơn.
Các nhà quản trị áp dụng lý thuyết ERG trong việc trả lương theo hiệu quả công việc, qua đó thúc đẩy người lao động nỗ lực học tập, nâng cao năng lực bản thân.2 Học thuyết về nhận thức 1.1 Thuyết kì vọng Vroom (1964) Victor Vroom đề xuất lý thuyết kì vọng vào năm 1964, chủ yếu tập trung vào kết quả. Vroom tách biệt giữa nỗ lực, hành động và hiệu quả. Theo ông hành vi và động cơ làm việc của con người được quyết định bởi nhận thức của con người về 10 những kỳ vọng của họ trong tương lai. Động cơ làm việc phụ thuộc vào các quan hệ giữa ba nhân tố: - Sự kỳ vọng: lòng tin của một người trong việc nỗ lực làm việc sẽ dẫn đến đạt kết quả mong muốn.
- Phương tiện: con người tin tưởng vào việc nhận được phần thưởng tương xứng khi hoàn thành tốt công việc. - Giá trị: mức độ quan trọng của phần thưởng đối với người thực hiện. Lý thuyết động viên theo kỳ vọng của Vroom được xây dựng theo công thức: Động viên = Sự kỳ vọng * Phương tiện * Giá trị phần thưởng Động cơ thúc đẩy sẽ không có khi bất cứ thành phần nào trong ba thành phần bằng không. Để động cơ thúc đẩy cao thì giá trị cả ba nhân tố kỳ vọng phải cao.
Từ thuyết kỳ vọng, nhà quản trị phải hiểu biết những mong đợi của người lao động và gắn những mong đợi này với mục tiêu tổ chức. Nhà quản trị cần tạo ra môi trường làm việc sao cho ba nhân tố kỳ vọng thúc đẩy nỗ lực làm việc của người lao động. Động lực là trạng thái hình thành khi người lao động kỳ vọng rằng họ sẽ nhận được kết quả, phần thưởng như mong muốn nếu họ nỗ lực thực hiện công việc.2 Thuyết công bằng của Stacy Adam (1963) Stacy Adam (1963) cho rằng con người luôn muốn được đối xử công bằng và họ có xu hướng tự thiết lập sự công bằng cho mình khi nhận thấy không được đối xử công bằng. Người lao động thường đem những đóng góp và phần thưởng của mình đi so sánh với người khác, họ có xu hướng xem trọng đóng góp của mình và đánh giá cao phần thưởng của người khác.
Stacy Adam đưa ra ba trường hợp sau: - Sự bất mãn và làm việc không hết khả năng sẽ diễn ra khi họ cảm nhận mình bị đối xử không công bằng. - Khi người lao động cảm nhận họ bị đối xử không xứng đáng với nỗ lực của bản thân thì họ sẽ giữ nguyên năng suất làm việc. - Họ được đối xử cao hơn họ mong muốn điều này làm cho họ tích cực hơn. 11 Học thuyết công bằng nhấn mạnh con người ứng xử theo nhận thức của họ, nhận thức này ảnh hưởng đến hành vi cá nhân.
Để phát huy tốt nguồn nhân lực tiến tới đạt mục tiêu của tổ chức, nhà quản trị phải đối xử công bằng với các thành viên.