CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1. Các khái niệm và các học thuyết về nhu cầu, động lực 1. Khái niệm về động lực Theo Craig C. Pinder (2008) thì động lực là tập hợp của các lực lượng bên trong cũng như bên ngoài cá nhân.
Lực lượng này sẽ khởi xướng các hành vi có liên quan đến công việc và xác định hình thức, phương hướng, cường độ và thời gian. Định nghĩa này công nhận những ảnh hưởng của các yếu tố của môi trường (ví dụ: hệ thống khen thưởng, đặc tính của công việc), và các yếu nằm ở bên trong cá nhân (ví dụ: nhu cầu, động cơ của cá nhân). Theo Whiseand và Rush (1988) thì giải thích động lực như là sự sẵng lòng của cá nhân để làm việc gì đó và ảnh hưởng lên các hành động nhằm thỏa mãn các nhu cầu. Theo Luthans (1998) định nghĩa động lực như là một quá trình bắt đầu với sự thiếu hụt nhu cầu sinh lý hoặc nhu cầu nào đó có thể kích hoạt một hành vi, động cơ để nhắm vào mục tiêu mong muốn.
Khái niệm tạo động lực làm việc Động lực làm việc theo Robbin (1988) là sự sẵn lòng được thể hiện ở mức độ cao trong nỗ lực nhằm hướng tới những mục tiêu cho tổ chức, trong điều kiện nhu cầu cá nhân được thỏa mãn theo nỗ lực của họ. Lawler (1973) với cách nhìn nhận động lực công việc ở góc nhìn khác đã đưa ra một mô hình về kết quả thực hiện công việc như sau: - Kết quả công việc được tính bằng khả năng và động lực của bản thân. - Khả năng bảo gồm khả năng bẩm sinh, đào tạo và từ các nguồn lực - Động lực được do bằng sự khao khát và tự nguyện. Từ đó ta thấy được rằng hiệu quả trong công việc phụ thuộc vào năng lực và động lực của cá nhân.
Khả năng thì bên cạnh các yếu tố tài năng bẩm sinh nó còn được phát triển thông qua quá trình học hỏi và được cung cấp các nguồn lực cần thiết hỗ trợ. Động 8 lực đó chính là sự khao khát đến từ nội tại bên trong của mỗi người. Do vậy để nâng cao hiệu quả trong công việc có thể được thực hiện thông qua cải thiện khả năng của nhân viên (Thông qua các chương trình đào tạo, huấn luyện), hoặc nâng cao động lực của người lao động. Động lực và sự thỏa mãn là 2 khái niệm hoàn toàn khác nhau.
Theo Locke (1976) định nghĩa sự thỏa mãn trong công việc chỉ đơn giản là một trạng thái của cảm xúc tích cực được tạo ra từ công việc, qua đó thể hiện giá trị của cá nhân đối với công việc của họ. Do vậy ta có thể thấy sự khác biệt giữa động lực và sự thỏa mãn, động lực là xu hướng và sự cố gắng nhằm đạt được mong muốn nào đó còn sự thoả mãn là sự toại nguyện khi điều mong muốn được đáp ứng. Hay nói cách khác động lực ngụ ý xu thế đi tới một kết quả, còn sự thoả mãn là một kết quả được thực hiện (Trần Kim Dung & Nguyễn Ngọc Lan Vy 2011). Sự cần thiết phải tạo động lực làm việc Theo như nghiên cứu của Farhaan (2009) thì khi nhân viên có động lực làm việc thì hiệu quả công việc sẽ đạt được hiệu suất lên đến 80-90%, tỉ lệ nghỉ việc, nghỉ phép thấp.
Điều này cho ta thấy khi tạo được động lực làm việc cho nhân viên, không những sẽ đem lại hiệu suất cao trong công việc, mà còn gia tăng lòng trung thành của họ đối với tổ chức. Kovach (1995) đã chỉ ra là “Vấn đề lớn nhất trong quản trị là nhận biết được chính xác các nhân tố thúc đẩy làm việc của nhân viên”. Qua đó ta thấy được vấn đề sống còn của mọi tổ chức là cần sớm nhận biết được những vấn đề nào có tác dụng lớn trong thúc đẩy động lực làm việc của nhân viên, từ đó đưa ra các chính sách động viên đúng chổ sẽ mang lại hiệu quả cao nhất cho tổ chức. Các học thuyết về nhu cầu và động viên a.
Tháp nhu cầu của Maslow Maslow cho rằng con ngươi có 5 loại nhu cầu và chúng có thể được sắp xếp theo một cấu trúc cấp bật kim tự tháp: 9 Hình 1. Các cấp bậc nhu cầu theo Maslow (Nguồn: Trần Kim Dung, 2015. Quản trị nguồn nhân lực, NXB Kinh Tế) Nhu cầu sinh học: Là các nhu cầu sinh lý bản năng của con người như ăn ngủ, lương thưởng, môi trường làm việc thoải mái, các chế độ bảo hiểm… Nhu cầu an toàn: Môi trường làm việc an toàn, ổn định trong công việc, được đối xử một cách công bằng… Nhu cầu xã hội: Nhu cầu làm việc nhóm, giao tiếp giữa các thành viên trong tổ chức, với đối tác, nhu cầu giao tiếp với thế giới bên ngoài. Nhu cầu tôn trọng: Nhu cầu được cấp trên và đồng nghiệp tôn trọng, được trao cho nhiều quyền hơn trong việc ra các quyết định công việc của bản thân.
Bên cạnh đó việc khen thưởng, trả lương xứng đáng cũng là một cách thể hiện sự công nhận và tôn trọng của tổ chức đối với những gì mà cá nhân đó đã làm được cho tổ chức. 10 Nhu cầu tự thể hiện: Đây là cấp bậc nhu cầu cao nhất, nhu cầu sáng tạo trong công việc, nhu cầu được thực hiện các công việc khó khăn và thử thách, được mọi người công nhận. Các nhu cầu này được chia làm 2 nhóm chính đó là: Nhu cầu cơ bản: Nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn và một phần của nhu cầu xã hội Nhu cầu bậc cao: Một phần nhu cầu xã hội, nhu cầu tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện. Cũng theo Maslow thì con người có xu hướng hành động nhằm thỏa mản các nhu cầu từ thấp đến cao.
Do vậy để có thể nâng cao động lực trong công việc cho nhân viên thì nhà quản trị cần tìm hiểu các bậc nhu cầu khác nhau của người lao động để đưa ra các chính sách động viên hiệu quả và phù hợp với điều kiện của tổ chức. Thuyết 2 nhân tố của Herzberg Nhà tâm lý học Frederick Herzberg đưa ra thuyết cho rằng con người được động viên bởi nhân tố: Nhân tố duy trì: Là nhóm các yếu tố khi không được thỏa mãn sẽ gây ra tình trạng bất mãn nơi nhân viên. Khi các yếu tố này được thỏa mãn sẽ không gây ra tình trạng bắt mãn nơi nhân viên, nhưng không tạo ra động viên trong công việc cho nhân viên. Ví dụ: Sự giám sát công việc, tiền lương, chính sách, quan hệ giữa các cá nhân trong tổ chức, điều kiện làm việc.
Nhân tố động viên: Là yếu tố mà khi được thỏa mãn sẽ tạo ra động lực làm việc cho nhân nhân viên, nhưng nếu không thỏa mãn thì sẽ không tạo ra động lực, nhưng cũng không gây ra sự bất mãn ở nhân viên. Ví dụ: sự công nhận của mọi người, công việc thú vị, cơ hội thăng tiến… 11 Bảng 1.1: Thuyết hai nhân tố của Herzberg Nhân tố duy trì Nhân tố động viên Được đáp ứng Không đáp ứng Được đáp ứng Không đáp ứng Không bất mãn Gây bất mãn Thỏa mãn Không bất mãn Không động viên Ảnh hưởng tiêu cực Động viên tích cực Không động viên (Nguồn: Trần Kim Dung, 2015. Quản trị nguồn nhân lực, NXB Kinh Tế) Một phát hiện đáng ngạc nhiên mà Herzberg đưa ra là yếu tố tiền lương tự bản thân nó không tạo ra động lực làm việc cho nhân viên, nhưng nó có thể gây ra tình trạng bất mãn cho nhân viên vì lương của họ quá thấp hoặc nếu có sự so sánh tiền lương giữa các nhân viên, nếu sự có chênh lệch lớn, điều này sẽ tạo ra sự bất mãn nơi nhân viên. Học thuyết này giúp các nhà quản trị xác định các yếu tố nào gây ra sự bất mãn, và các yếu tố gây ra động lực cho nhân viên từ đó đưa ra các chiến lược động viên phù hợp như cần loại bỏ các yếu tố gây ra sự bất mãn như sự so sánh về tiền lương, môi trường làm việc không đảm bảo, đồng thời tăng cường các yếu tố có thể tạo ra động lực cho nhân viên như: sự công nhận, công việc thử thách, sự thành đạt.
Học thuyết 4 động cơ của Lawrence & Nohria (2002) Khái niệm về động cơ: Theo Lawrence & Nohria động cơ là nguyên nhân gây ra động lực nơi con người. Động cơ tự bản thân chúng mang ý nghĩa đầy đủ và cơ bản, và chúng không thể bị chia nhỏ thành các yếu tố cấu thành bên trong. Theo Lawrence và Nohria thì hành động của con người là một kết quả của sự lựa chọn có ý thức. Những lựa chọn này bị thúc đẩy bởi các động cơ bên trong của mỗi cá nhân.
Động cơ của con người có thể chia ra làm 4 loại: Động cơ tồn tại (Drive to acquire): Là động cơ thúc đẩy con người hành động nhằm thỏa mãn các nhu cầu về sinh lý cũng như tinh thần. Ở mức đơn giản như việc tìm kiếm thức ăn, nước uống, ở mức cao hơn như là sự lo lắng về vị trí của bản thân, những thành tích mà bản thân đạt được, quyền lực. 12 Động cơ liên kết (Drive to bond): Thể hiện sự thôi thúc trong việc tìm kiếm các mối quan hệ. Động cơ học hỏi (Drive to learn): Động cơ này được thỏa mản bằng sự tò mò, khám phá và phát triển bản thân.
Một ví dụ điểm hình cho trường hợp này đó là sự thỏa mản của những người lao động khi họ thực hiện các công việc mang tính thử thách cao. Động cơ này phát huy hiệu quả cao khi kết hợp với động cơ liên kết (drive to bond) trong môi trường làm việc nhóm. Động cơ tự vệ (Drive to defense): Là động cơ thôi thúc con người hành động để chống lại các mối đoe dọa có thể làm ảnh hưởng tới sự an toàn của bản thân, những thành quả của bản thân. Không giống như các động cơ ở trên, động cơ này chỉ được kích hoạt khi mối đoe dọa xuất hiện.
Trong môi trường tổ chức thì lý thuyết này cho thấy mọi hành động của mọi cá nhân trong tổ chức từ tổng giám đốc đến người lao động cơ sở nhất điều được chi phối bởi những động cơ này. Nhà quản trị cần thiết kế công việc để có thể kích hoạt cả 4 động cơ nơi mỗi cá nhân, nếu công việc chỉ kích hoạt 1 vài trong động cơ 4 động cơ đó thì sẽ mang lại động lực không cao bằng một công việc tạo ra sự cân bằng của tất cả 4 động cơ đó.