Chương 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc Chương 2. Phương pháp nghiên cứu Chương 3. Phân tích và đánh giá thực trạng về động lực làm việc cho người lao động của Môi trường và Công trình đô thị Hưng Yên 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 4. Khuyến nghị một số giải pháp cơ bản tăng cường động lực làm việc cho người lao động công ty Môi trường và Công trình đô thị Hưng Yên.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1. Khái niệm về động lực và tạo động lực làm việc 1. Khái niệm về động lực làm việc Mỗi cá nhân là một thế giới riêng, họ mang trong mình những tính cách riêng, có những nhu cầu, mục tiêu và tiềm năng khác nhau.
Mục đích làm việc của họ khác nhau, nhu cầu cá nhân của họ ở những thời điểm khác nhau thì không giống nhau. Chính vì vậy mà mỗi cá nhân sẽ có động lực làm việc không giống nhau. Vậy mục tiêu, nhu cầu làm việc là gì? Mục tiêu là những kết quả mong muốn đạt được trong tương lai, là cái đích cần đạt tới. Mỗi cá nhân, tổ chức đều đặt ra một mục tiêu riêng.
Mục tiêu làm việc của mỗi cá nhân là khác nhau, đó là những kết quả mà người lao động mong muốn đạt được sau khi trải qua một thời gian nỗ lực làm việc. Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Nhu cầu làm việc chính là nguyện vọng được lao động, được cống hiến của con người. Nhu cầu làm việc chính là một yếu tố thúc đẩy con người hoạt động, thúc đẩy con người làm việc và tạo ra động lực làm việc.
Có rất nhiều khái niệm về động lực làm việc. “Trong vật lý học, động lực học là một ngành của cơ học chuyên nghiên cứu chuyển động của các vật thể và mối liên hệ giữa chúng với tương tác giữa các vật. Nói cách khác, động lực học quan tâm tới nguyên nhân sinh ra chuyển động của các vật, đó chính là lực”. Với ý nghĩa như vậy, cụm từ động lực trong quản trị nhân sự xuất phát từ lĩnh vực vật lý, được các nhà quản trị sử dụng để lý giải về hành động, quá trình làm việc của người lao động.
Do đó, động lực là yếu tố, là cơ sở, là công cụ mà người lãnh đạo tác động vào người lao động nhằm thúc đẩy khả năng của họ trong quá trình hoạt động, quá trình làm việc để tạo ra nhiều giá trị hơn cho tổ chức. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong lĩnh vực quản trị nhân sự, có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về động lực làm việc (hay động lực lao động): - Theo Nguyễn Hữu Lam, trong cuốn “Hành vi tổ chức” cho rằng: “Động lực làm việc là sự sẵn sàng, nỗ lực làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức và thỏa mãn nhu cầu của bản thân người lao động”. Theo cách này, động lực làm việc hướng tới đạt được mong muốn của cả tổ chức và người lao động trên cơ sở sự nỗ lực, sẵn sàng làm việc của người lao động. - Một cách tiếp cận nữa của Thạc sĩ Vũ Thị Uyên (Đại học Kinh tế Quốc dân), “Động lực = Khao khát + Tự nguyện, còn Kết quả thực hiện công việc = Khả năng + Động lực”.
Cách tiếp cận này coi động lực là một phần quan trọng không thể tách rời để tạo nên kết quả công việc, là yếu tố bổ sung vào năng lực của người lao động để hoàn thành công việc tốt nhất. Nếu chỉ có khả năng mà không có động lực thì khó mà có được kết quả như mong muốn. Từ những định nghĩa đã nêu, trên cơ sở nghiên cứu tổng kết thực tiễn, tác giả đề xuất sử dụng khái niệm sau về động lực làm việc: “Động lực làm việc là yếu tố thúc đẩy suy nghĩ của người lao động, chuyển hóa thành hành động tự nguyện nỗ lực làm việc để đạt được mục tiêu, đạt được kết quả mong đợi”. Yếu tố thúc đẩy trong định nghĩa trên sẽ thay đổi theo thời gian, hoàn cảnh và đặc biệt với những người khác nhau thì không giống nhau.
Ngay cả trong một người lao động, cũng vẫn một công việc nhưng trước đây anh ta làm rất tốt, rất xuất sắc nhưng hiện tại thì lại làm rất kém, hoặc không làm được. Vậy, hiểu được động lực làm việc của người lao động trong từng giai đoạn, đồng thời tìm ra yếu tố tạo nên động lực làm việc và cách thức tạo ra động lực cho người lao động là một phần quan trọng mà Luận văn cần giải quyết. Khái niệm về tạo động lực cho người lao động Có rất nhiều định nghĩa về tạo động lực. Chẳng hạn: “Tạo động lực là dẫn dắt nhân viên đạt được những mục tiêu đã đề ra với nỗ lực lớn nhất”.
Định nghĩa này nhấn mạnh tới vai trò của người lãnh đạo. Người lãnh đạo chính là người luôn 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan tâm, theo sát, dẫn dắt những người lao động làm việc với nỗ lực cao nhất để đạt được mục tiêu của tổ chức. Một định nghĩa khác nói rằng “Tạo động lực làm việc là một khuynh hướng hành vi có mục đích để đạt được những nhu cầu chưa được thỏa mãn”. Theo cách hiểu này, tạo động lực là những hành động theo một khuynh hướng nhất định, nhằm mục đích thỏa mãn những mong muốn, nhu cầu còn thiếu thốn.
Hay “Tạo động lực làm việc là những hoạt động có tính chất khuyến khích động viên, nhằm tác động vào nhu cầu của người lao động để tạo nên sự chuyển biến trong hành vi của họ hướng theo những mục tiêu mà doanh nghiệp mong muốn”. Khái niệm này thể hiện biện pháp mà nhà lãnh đạo sử dụng để hướng người lao động làm việc, lôi kéo họ vào việc hoàn thành mục tiêu của tổ chức. Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau, tuy nhiên xét về bản chất thì các khái niệm trên đều cùng ý nghĩa: khích lệ nhân viên nỗ lực làm việc để tăng chất lượng đầu ra của tổ chức. Với các cách tiếp cận khác nhau, nhưng các định nghĩa đều đề cập đến các yếu tố chính mà hoạt động tạo động lực cần có: - Một là, chủ thể của tạo động lực - chính là những nhà lãnh đạo; - Hai là, khách thể của tạo động lực - là những nhân viên, những lao động của nhiều cấp khác nhau, có thể là lãnh đạo cấp trung, lãnh đạo trực tiếp, hay những người lao động; - Ba là,công cụ của tạo động lực - là những chính sách, chế độ mà nhà lãnh đạo sử dụng để kích thích, động viên người lao động làm việc một cách hăng say nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.
Với những quan điểm về động lực và tạo động lực đã phân tích, trong Luận văn này, tác giả đề nghị hiểu về tạo động lực làm việc như sau: “Tạo động lực là quá trình mà nhà quản trị tìm ra yếu tố có tính thúc đẩy người lao động tại những thời điểm khác nhau; lựa chọn, sử dụng các chính sách phù hợp tác động vào những yếu tố thúc đẩy đó của người lao động, từ đó kích thích người lao động nỗ lực, đóng góp hết mình vào việc hoàn thành mục tiêu của tổ chức”. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quá trình tìm ra các yếu tố thúc đẩy, lựa chọn và sử dụng các chính sách phù hợp đó là quá trình liên tục: bắt đầu từ việc nghiên cứu nhu cầu, động cơ của các cá nhân khác nhau, căn cứ vào mục tiêu của tổ chức để lựa chọn công cụ tạo động lực phù hợp. Vì vậy, bản chất của quá trình tạo động lực là quá trình tìm ra và sử dụng những công cụ tạo động lực phù hợp. Có thể hình dung quá trình đó ở mô hình tạo động lực trong tổ chức.
Mục tiêu và mong Căn cứ Tự nguyện, nhiệt tình hoàn thành muốn cuối cùng của tổ chức Chi phối Công cụ tạo động Tác động Người lao động với Tìm ra Nhà quản trị lực nhu cầu khác nhau Sử dụng Được sử dụng Động cơ và nhu cầu Nghiên cứu và định hướng của người sử dụng Tác động qua lại và điều chỉnh Hình 1.1 Mô hình tạo động lực trong tổ chức (Nguồn: Cảnh Chí Dũng 2012) Mô hình này thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố trong quá trình tạo động lực, gợi ý các bước thực hiện và chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hoạt động tạo động lực cho người lao động trong một tổ chức. Các học thuyết tạo động lực Từ những thế kỷ trước, động lực làm việc và tạo động lực làm việc là chủ đề được rất nhiều học giả nghiên cứu. Những học thuyết của họ ngày nay trở thành cơ sở cho những nghiên cứu mới và những nghiên cứu mang tính ứng dụng. Tìm hiểu những lý thuyết này nhằm mục đích hiểu và lý giải được những nhu cầu, mong muốn của người lao động, để thấy được bản chất nguyên nhân kìm hãm hay thúc 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đẩy nỗ lực của người lao động và những yếu tố quan trọng đối với người lao động mà tổ chức cần đáp ứng.
Có nhiều học thuyết nghiên cứu về động lực của người lao động như: Lý thuyết Maslow với 5 bậc nhu cầu; lý thuyết Herzberg với “thỏa mãn – bất mãn” (học thuyết 2 nhân tố); thuyết kỳ vọng của Vroom; học thuyết của học giả Porter và Lawler; học thuyết về sự công bằng của J.Stacy Adams; học thuyết đặt mục tiêu của Edwin Locke; lý thuyết Mc Clelland với nhu cầu cho sự phát triển, thành tựu; lý thuyết Mc Gregor với lý thuyết X, lý thuyết Y; lý thuyết Nhật. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này trên góc độ tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp, luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu 3 lý thuyết cơ bản về tạo động lực là: Lý thuyết Maslow với 5 bậc nhu cầu; lý thuyết Herzberg với “thỏa mãn – bất mãn „ (học thuyết 2 nhân tố) và thuyết kỳ vọng của Vroom. Lý thuyết MASLOW với 5 bậc thang nhu cầu 1. Nội dung của lý thuyết “Thuyết nhu cầu của A.
Maslow là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung.