Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho người lao động 1. Những khái niệm cơ bản 1. Động lực làm việc Các cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp luôn mong muốn người lao động của mình hoàn thành công việc với hiệu quả cao để góp phần thực hiện thành công các mục tiêu của tổ chức.
Tuy nhiên, trong tập thể lao động luôn có những người lao động làm việc hăng say nhiệt tình, có kết quả thực hiện công việc cao nhưng cũng có những người lao động làm việc trong trạng thái uể oải, thiếu hứng thú trong lao động, thờ ơ với công việc, thậm chí bỏ việc, kết quả thực hiện công việc thấp. Các nhà kinh tế học đã chỉ ra rằng câu trả lời cho vấn đề trên chính là động lực lao động của mỗi cá nhân người lao động. Hiện tại, có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về động lực lao động: Theo Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2010) thì: “Động lực là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân để tăng cường sự nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”. Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2011) thì: “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động”. Con người làm việc đều mong muốn được khẳng định bản thân, được thành đạt, cũng như muốn có thu nhập đảm bảo cho cuộc sống cá nhân. Khi con người ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mong muốn khác nhau. Nhà quản trị cần có những tác động khác nhau đến mỗi người lao động.
Động lực mạnh sẽ thúc đẩy con người hành động một cách tích cực, đạt hiệu quả cao và ngược lại. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Về động lực của người lao động trong cơ quan, tổ chức có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trường làm việc, không có động lực chung chung không gắn với công việc cụ thể nào; Thứ hai, Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân. Điều đó có nghĩa là không có người có động lực và người không có động lực; Thứ ba, Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực sẽ dẫn tới năng suất, hiệu quả công việc cao hơn. Tuy nhiên, không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc bởi vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn phụ thuộc vào khả năng của người lao động, phương tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc; Thứ tư, Người lao động nếu không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành công việc.
Tuy nhiên, người lao động nếu mất động lực hoặc suy giảm động lực sẽ không mất khả năng thực hiện công việc và có xu hướng ra khỏi tổ chức. Năm 1973 Maier và Lawler đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc là một hàm số của năng lực và động lực làm việc. Trong đó, năng lực làm việc phụ thuộc vào khả năng bẩm sinh; kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm có được thông qua đào tạo; các nguồn lực để thực hiện công việc. Động lực là sự khao khát tự nguyện của mỗi các nhân.
Như vậy có thể hiểu: “Động lực là những nhân tố bên trong kích thích bản thân mỗi cá nhân nỗ lực làm việc với sự khao khát và tự nguyện để đạt được các mục tiêu của bản thân và mục tiêu của tổ chức ”. Tạo động lực làm việc Tạo động lực trong lao động là hệ thống các chính sách, các biện pháp các thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có được động lực để làm việc. Sau đây là một số trích dẫn thêm định nghĩa của một số tác giả như sau: Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2011) thì “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Hay theo Lê Thanh Hà (2009): “Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức”.
Để có thể tạo được động lực cho người lao động cần phải tìm hiểu được người lao động làm việc nhằm đạt được mục tiêu gì từ đó thúc đẩy động cơ lao động của họ. Động lực làm việc không tự nhiên xuất hiện mà là sự kết hợp đồng thời của các nguồn lực chủ quan thuộc về phía bản thân người lao động và nguồn lực khách quan thuộc về môi trường sống và làm việc của người lao động. Tạo động lực lao động được hiểu là những hoạt động có tính chất khuyến khích động viên nhằm tác động vào nhu cầu của người lao động để tạo nên sự chuyển biến trong hành vi của họ hướng theo những mục tiêu mà tổ chức mong muốn. Tạo động lực làm nảy sinh động lực trong mỗi doanh nghiệp.
Các nhà quản trị trong tổ chức muốn phát triển doanh nghiệp mình vững mạnh thì phải vận dụng các chính sách, biện pháp, các công cụ quản lý thích hợp tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động hăng say làm việc, phát huy tính sáng tạo trong quá trình làm việc để đóng góp cho tổ chức. Vấn đề quan trọng của tạo động lực là hiểu được nhu cầu của người lao động, để từ đó có biện pháp kích thích, tạo ra động lực cho người lao động hăng say, nỗ lực trong quá trình làm việc. Các học thuyết phổ biến về tạo động lực cho người lao động 1. Lý thuyết hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow Theo nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow (1908-1970) thì nhu cầu của con người gồm 5 cấp bậc, từ nhu cầu thấp nhất đến cao nhất.
- Nhu cầu sinh lý: Đó là những nhu cầu cơ bản và thiết yếu để tồn tại như: ăn, mặc, ở. nếu chưa đủ duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác sẽ không thúc đẩy được NLĐ, nó là yếu tố bắt buộc NLĐ phải làm việc nhưng không kích thích nhân viên đạt hiệu quả tốt hơn trong công việc của mình. - Nhu cầu an toàn: Đảm bảo an toàn về tài sản, công việc, sức khoẻ, tính mạng và gia đình, được đóng bảo hiểm, được tiết kiệm. Đó cũng là yếu tố cần thiết trong công việc mà mọi NLĐ đều mong muốn được đáp ứng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Nhu cầu về xã hội: Nhu cầu giao tiếp với người khác và gặt hái những lợi ích từ các mối quan hệ với bên ngoài xã hội, muốn có cảm giác được là thành viên của một tập thể, một hội đoàn, một nhóm bạn bè. - Nhu cầu được tôn trọng: Mong muốn cảm thấy mình là người có ích trong một lĩnh vực nào đó, được người khác công nhận xứng đáng và đánh giá cao. Đây có thể là nguồn động viên rất lớn cho NLĐ trong công việc. - Nhu cầu tự hoàn thiện: Mong muốn được là chính mình, được sử dụng hết khả năng để khẳng định mình, đạt mục tiêu, tự phát triển tiềm năng, cải tiến bản thân.
Nhu cầu ở mức độ này có khả năng động viên rất lớn. Theo học thuyết này, khi mỗi một nhu cầu được thỏa mãn thì nhu cầu tiếp theo trở nên quan trọng hơn, theo thứ bậc như trên. Vì thế, để tạo động lực cho NLĐ, nhà quản lý cần phải nắm được NLĐ đó đang ở thứ bậc nào để có xu hướng thỏa mãn nhu cầu của họ (Maslow, A. Học thuyết về sự công bằng của J.
Stacy Adams quan niệm rằng con người muốn được “đối xử công bằng”, mong muốn nhận được những quyền lợi tương xứng với đóng góp và công sức của họ đã bỏ ra. NLĐ thường có xu hướng so sánh những đóng góp và phần thưởng của bản thân với những người khác: Nếu họ được đối xử không tốt, phần thưởng không xứng đáng với công sức họ đã bỏ ra sẽ gây bất mãn và từ đó họ không làm việc hết khả năng và thậm chí họ sẽ bỏ việc; nếu họ được đối xử đúng, phần thưởng và đãi ngộ tương xứng với công sức họ bỏ ra thì họ sẽ duy trì mức năng suất như cũ; nếu họ thấy rằng phần thưởng và đãi ngộ cao hơn so với điều mà họ mong muốn, họ sẽ làm việc tích cực hơn, chăm chỉ hơn. Tuy nhiên, con người thường có xu hướng đánh giá cao cống hiến của mình và phần thưởng mà người khác được nhận. Đối mặt với sự không công bằng, con người thường có xu hướng chấp nhận, chịu đựng hoặc chống đối.
Nếu phải đối mặt với sự không công bằng lâu dài thì họ sẽ bỏ việc. Học thuyết tăng cường tích cực của B.Skinner Thuyết này dựa trên quan điểm về cơ chế học tập của con người: Các tác động lặp đi lặp lại của thưởng - phạt sẽ có thể cải biến hành vi của con người; có LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 những hành vi của cá nhân nên được thúc đẩy, có hành vi nên hạn chế bằng các công cụ là phần thưởng, hình phạt; những hành vi được thưởng sẽ có xu hướng lặp lại và những hành vi bị phạt sẽ giảm đi. Tuy nhiên, điều này thực sự có hiệu quả khi khoảng cách thời gian giữa thời điểm xảy ra hành vi và thời điểm tiến hành thưởng - phạt là ngắn nhất. Do vậy, nhà quản trị cần hết sức lưu ý đến việc ghi nhận các thành tích của nhân viên, có phần thưởng xứng đáng cho thành tích đó, đồng thời cũng có những hình phạt phù hợp (Skinner B F, 1953) 1.
Học thuyết về sự kỳ vọng của Victor Vroom Victor Vroom cho rằng cá nhân mong muốn một nỗ lực nhất định sẽ đem lại một thành tích nhất định và thành tích đó phải dẫn đến những kết quả hoặc phần thưởng như mong muốn.