Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo động lực làm việc cho người lao động trong đơn vị sự nghiệp công lập. Chương 2: Thực trạng tạo động lực làm việc cho đội ngũ viên chức của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội giai đoạn 2019 - 2021. Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện tạo động lực làm việc cho cho đội ngũ viên chức Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đến năm 2025. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1.
Các khái niệm cơ bản - Khái niệm động lực Có rất nhiều quan điểm, khái niệm và định nghĩa khác nhau về động lực bởi lẽ từ góc độ tiếp cận khác nhau của các nhà nghiên cứu cũng đưa ra những khái niệm khác nhau: + Maier & Lawler (1973): Động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân. Các tác giả đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = khả năng + động lực. + Higgins (1994): Động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thoả mãn. + Kreiter (1995) cho rằng động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng cá nhân theo mục đích nhất định.
+ Theo giáo trình Quản lý học của Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Đoàn Thị Thu Hà, Đỗ Thị Hải Hà (2012): “Động lực là những yếu tố tạo ra lý do hành động cho con người và thúc đẩy con người hành động một cách tích cực, có năng suất, chất lượng, hiệu quả, có khả năng thích nghi và sáng tạo cao nhất trong tiềm năng của họ”. Từ các quan điểm trên, ta có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất về động lực như sau: Động lực là tất cả những yếu tố có tác dụng thôi thúc, khuyến khích con người nỗ lực thực hiện những hành vi nhằm đạt được mục tiêu của cá nhân và của tổ chức. Động lực là sự thúc đẩy từ bên trong mỗi cá nhân, hoặc do sự tác động từ bên ngoài nhằm khơi dậy tính tích cực của chủ thể hành động thỏa mãn mục tiêu của cá nhân và tổ chức. - Khái niệm động lực làm việc Con người luôn sống và làm việc trong một tổ chức nhất định, hoạt động của con người luôn gắn với tổ chức nhất định.
Do đó, các nhà quản lý 13 muốn nâng cao hiệu quả làm việc của tổ chức mình thì phải đi tìm được động lực làm việc hiệu quả, cống hiến hết mình. Động lực làm việc là sự thúc đẩy con người làm việc hăng say, giúp họ phát huy được sức mạnh tiềm tàng bên trong, vượt qua được những thách thức khó khăn để hoàn thành công việc một cách tốt nhất. Động lực lý giải cho lý do tại sao một người lại hành động. Một người có động lực là khi người đó bắt tay vào làm việc mà không cần cưỡng bức, khi đó họ có thể làm được nhiều hơn điều mà cấp trên mong chờ ở họ.
Động lực làm việc thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau như sự nhiệt tình, chăm chỉ, bền bỉ, … - Khái niệm tạo động lực làm việc Động lực có vai trò quan trọng, là nhân tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự thành công, bởi vì mỗi cá nhân trong tổ chức có động lực, có sự tự nguyện từ trong bản thân, tạo động cơ khuyến khích người lao động làm việc, thúc đẩy sự sáng tạo làm tăng năng suất và hiệu quả lao động thỏa mãn nhu cầu cá nhân đồng thời hướng tới mục tiêu chung của tổ chức. Do vậy, việc tạo động lực làm việc luôn là mục tiêu và là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý. Như vậy, có thể hiểu “Tạo động lực làm việc” là tất cả những hoạt động mà một tổ chức thực hiện đối với người lao động nhằm tác động tới những hành động, thái độ, khả năng của người lao động trong việc thực hiện mục tiêu của tổ chức. Tạo động lực chính là việc vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn so với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức.
- Khái niệm viên chức “Viên chức” là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật1. 1 Quy định tại Điều 2 Luật Viên chức 2010. 14 Theo quy định, viên chức phải là những người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập. “Đơn vị sự nghiệp công lập” là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền cuả Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước2.
Vậy có thể hiểu viên chức của một đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập là viên chức được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại các phòng ban trong đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập theo quy định của pháp luật. Theo đó, viên chức của một đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập được xác định là viên chức nhà nước hoạt động trong lĩnh vực giáo dục không mang tính quyền lực nhà nước, không phải là hoạt động quản lý nhà nước mà hoạt động dựa trên kỹ năng nghiệp vụ, mang tính nghề nghiệp cao. Viên chức của đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập làm những việc nhằm phục vụ cho mục đích đào tạo của đơn vị giáo dục đó do hoạt động của họ có chức năng nghề nghiệp gắn với hoạt động đào tạo. - Phân loại Viên chức Theo Điều 3 Nghị định 115/2020/NĐ-CP, Viên chức được phân loại như sau: + Theo chức trách, nhiệm vụ a) Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý; b) Viên chức không giữ chức vụ quản lý là người chỉ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nghiệp vụ theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập.
+ Theo trình độ đào tạo a) Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp có yêu cầu trình độ đào tạo tiến sĩ; b) Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp có yêu cầu trình độ đào tạo thạc sĩ; 2 Quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật viên chức 2010. 15 c) Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp có yêu cầu trình độ đào tạo đại học; d) Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp có yêu cầu trình độ đào tạo cao đẳng; đ) Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp có yêu cầu trình độ đào tạo trung cấp. - Khái niệm đội ngũ Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về đội ngũ như: đội ngũ cán bộ công chức, đội ngũ viên chức, đội ngũ trí thức, đội ngũ những người tình nguyện…đều xuất phát theo cách hiểu thuật ngữ quân sự về đội ngũ “Đó là một tổ chức gồm nhiều người, tập hợp lại thành một lực lượng đội ngũ chỉnh tề”. Từ “Đội ngũ” được hiểu như sau:“Đội ngũ là tập hợp một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp”.
Ví dụ như: đội ngũ cán bộ, đội ngũ những người làm nghề y, đội ngũ nhà giáo, đội ngũ những người cây viết trẻ. Các khái niệm về đội ngũ tuy có khác nhau, nhưng đều thống nhất một điều: đó là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng có quy củ để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặc khác nghề, nhưng có chung một mục đích xác định. Tổng hợp những ý kiến trên chúng ta có thể hiểu: Đội ngũ là một tập thể người gắn bó với nhau theo cùng lý tưởng, có cùng một mục đích chung, làm việc theo kế hoạch và gắn bó với nhau về mặt lợi ích tinh thần và vật chất cụ thể. Tuy nhiên, dù dùng thuật ngữ nào thì người quản lý nhà trường đều phải xây dựng gắn kết các thành viên trong đơn vị tạo ra đội ngũ.
Trong đó, mỗi người có thể có sắc thái riêng của mình, gắn kết lại thành một khối thống nhất mà mỗi cá nhân là thành viên của đội ngũ đó và phải có chung lý tưởng. - Khái niệm tạo động lực làm việc cho đội ngũ viên chức Tạo động lực cho đội ngũ viên chức là những nhân tố bên ngoài kích thích sự tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao trong đơn vị sự nghiệp công lập. Biểu hiện của việc tạo động lực cho đội 16 ngũ viên chức là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân đội ngũ viên chức. Một số học thuyết liên quan đến tạo động lực làm việc 1.
Học thuyết nhu cầu của Abarham Maslow (1943) Học thuyết về nhu cầu của con người của Abraham Maslow - nhà tâm lý học người Mỹ được công bố lần đầu tiên trong bài viết A theory of human motivation trên Tạp chí Psychological Review số 50 năm 1943. Hệ thống nhu cầu của Maslow xây dựng nên là một trong những mô hình được sử dụng rộng rãi nhất trong nghiên cứu về động cơ cá nhân. Ông cho rằng trong mỗi con người bao giờ cũng tồn tại một hệ thống phức tạp gồm 5 nhóm nhu cầu, thứ tự từ thấp đến cao: Nhu cầu tự hoàn thiện Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu về an toàn Nhu cầu về sinh lý (vật chất) Hình 0. Tháp nhu cầu của Maslow3 Maslow đã khẳng định: Mỗi cá nhân NLĐ có hệ thống nhu cầu khác nhau và nó được thỏa mãn bằng những cách thức, phương tiện khác nhau.
Về nguyên tắc, con người cần được thỏa mãn nhu cầu ở bậc thấp hơn trước khi được khuyến khích thỏa mãn những nhu cầu ở bậc cao hơn. Thuyết nhu cầu 3 Nguồn: Maslow, A. (1943), A theory of human motivation, Psychological Review, 50, 370-396. 17 Maslow có một hàm ý quan trọng đối với các nhà quản trị muốn lãnh đạo nhân viên mình tốt thì cần phải hiểu nhân viên của mình đang ở cấp độ nào trong tháp nhu cầu.