CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Động lực Trên thực tế, có rất nhiều khái niệm về động lực được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội. Tùy theo từng cách tiếp cận,mỗi tác giả lại đưa ra những quan niệm riêng của mình về động lực nhưng nội hàm của chúng đều hướng tới sự khao khát và tự nguyện nỗ lực làm việc của người lao động nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức cũng như của bản thân người lao động.
Nguyễn Văn Điềm (Quản trị nhân lực, 2007, tr.128), “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức”.TS Bùi Anh Tuấn (Hành vi tổ chức, 2011 tr.85), ”Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao”. Theo Kreiter (1995) “Động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định”. Theo Higgins (1994) ”Động lực là lực đẩy bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn”. Theo Bedeian (1993) “Động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu”.
Như vậy, động lực là trạng thái bên trong của con người để tác động lên con người, thúc đẩy, kích thích sự hăng say, nỗ lực hoạt động, làm việc của mỗi cá nhân nhằm đạt được những mong muốn, mục đích của bản thân và của tổ chức. Nhu cầu Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung và đến tâm lý của con người nói riêng. Nhu cầu được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã hội. Có thể nói nhu cầu chính là một hiện tượng đa dạng đầy tính phức tạp và đặc trưng cho mỗi loài sinh vật.
Cho tới nay, chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm về nhu cầu. Các công trình nghiên cứu khoa học thường có những định nghĩa riêng biệt. Hiện tại có thể định nghĩa: Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người, đó là sự đòi 5 hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Dựa theo mức độ nhận thức, điều kiện môi trường hoàn cảnh sống, những đặc điểm tâm sinh lý mà mỗi người sẽ có những nhu cầu tinh thần và nhu cầu xã hội khác nhau.
Nhu cầu của mỗi cá nhân rất đa dạng và vô tận, chúng thay đổi theo thời gian và biến đổi không ngừng. Thỏa mãn một nhu cầu này đồng thời sẽ nảy sinh một nhu cầu khác, khi nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối của con người càng cao. Bởi vậy, trong hoạt động lao động của con người, việc tạo ra nhu cầu sẽ là yếu tố thúc đẩy con người phải động não hăng say tìm tòi để thỏa man nhu cầu của chính mình. Các nhà quản trị doanh nghiệp khi nắm bắt được tâm lý và nhu cầu của người lao động, sẽ dựa vào đó làm cứ và có những biện pháp phù hợp nhằm khuyến khích người lao động hoạt động sáng tạo, thúc đẩy làm việc một cách hăng say và có chủ đích hoàn toàn tự nguyện mà không cảm thấy bị áp lực dẫn đến tăng năng suất làm việc và đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh góp phần phát triển doanh nghiệp.
Tạo động lực lao động Tạo động lực lao động là sự vận dụng một cách có hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý doanh nghiệp tác động tới người lao động nhằm phát huy khả năng làm việc, tinh thần, thái độ làm việc của người lao động để đạt hiệu quả cao trong lao động. Tạo động lực cho người lao động đóng vai trò rất quan trọng trong việc tăng năng suất lao động trong điều kiện các nhân tố khác không đổi. Nhà quản trị doanh nghiệp cần phải tìm hiểu được tâm lý người lao động cần gì và họ làm việc nhằm đạt được mục tiêu gì để từ đó có những biện pháp khuyến khích, tạo ra sự hấp dẫn trong công việc và tạo điều kiện thúc đẩy động cơ của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Người lao động khi được tạo động lực làm việc thì họ sẽ cảm thấy mình được quan tâm, yêu nghề hơn, nhiệt tình hơn, cố gắng nỗ lực hơn, gắn bó với doanh nghiệp lâu hơn, tạo ra tiềm năng nâng cao hiệu quả công việc giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển bền vững.
Nguyễn Văn Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân (Quản trị nhân lực, 2007, tr.134), “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động nhằm hướng tới đạt được các mục tiêu tổ chức” Theo TS. Bùi Anh Tuấn (Hành vi tổ chứcc, 2011, tr.85) “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”. Có thể hiểu tạo động lực chính là chìa khóa để cải thiện kết quả làm việc, nâng cao năng suất công việc.
Sự phát triển và lớn mạnh của một tổ chức sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của mỗi một người lao động trong doanh nghiệp. Khi sự hấp dẫn càng cao, lợi ích nhận được càng lớn thì động lực để người lao động cố gắng làm việc càng cao, người lao động càng tích cực, có ý thức trách nhiệm hơn với công việc, hăng hái làm việc hết sức mình, người lao động sẽ gắn bó hơn với tổ chức khiến người lao động có ý thức trung thành với tổ chức, nâng cao trình độ hoàn thiện bản thân để đạt được những lợi ích đó. Một số học thuyết tạo động lực Có rất nhiều học thuyết về tạo động lực trong lao động. Tuy nhiên, tất cả các học thuyết đều kết luận rằng để nâng cao thành tích lao động và phát triển của tổ chức được là nhờ một phần của việc tăng cường động lực đối với người lao động bên trong tổ chức.
Dưới đây là một số học thuyết cơ bản về tạo động lực: 1. Học thuyết nhu cầu của Maslow Abraham Maslow (1/4/1908) là một nhà tâm lý học người Mỹ, ông được thế giới biết đến qua mô hình nổi tiếng Tháp nhu cầu và được coi là cha đẻ của tâm lý học nhân văn. Theo Maslow, nhu cầu của con người được phân thành hai nhóm chính: Nhu cầu cơ bản (Basic Needs) và nhu cầu nâng cao (Meta Needs) Khi các nhu cầu cơ bản được đáp ứng thì con người sẽ dần chuyển sang nhu cầu cao hơn. Tháp nhu cầu của Maslow là lý thuyết động lực trong tâm lý học, gồm một mô hình 5 tầng của kim tự tháp thể hiện nhu cầu tự nhiên của con người phát triển từ nhu cầu cơ bản đến các nhu cầu nâng cao: 7 Hình 1.
Tháp nhu cầu Maslow - Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu nằm ở cấp thấp nhất trong hệ thống bao gồm những nhu cầu cơ bản nhất để đảm bảo con người có thể tồn tại được như: Quần áo, thức ăn, thức uống, chỗ ngủ nghỉ,… và các nhu cầu khác của cơ thể. Đây được xem là nhu cầu cơ bản và quan trọng nhất, bởi nếu không đáp ứng được nhu cầu này thì tất cả những nhu cầu cao hơn sẽ không thể thực hiện được. Doanh nghiệp có thể cụ thể hóa nhu cầu này bằng một hệ thống tiền lương có tính cạnh tranh, tạo các cơ hội cho người lao động tăng thu nhập, đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất cho người lao động làm việc,… - Nhu cầu an toàn: Đây là nhu cầu tiếp theo sẽ xuất hiện khi nhu cầu sinh lý đã được đáp ứng. Những nhu cầu này mong muốn được ổn định, tránh sự nguy hiểm và đe dọa về thân thể, việc làm và tài sản, được đảm bảo về việc làm, được sống trong môi trường an toàn.
Trong doanh nghiệp, nhà quản lý có thể chú trọng nhu cầu này bằng cách đảm bảo điều kiện làm việc an toàn, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thân thể cho nhân viên, các cam kết về việc làm ổn định lâu dài,… - Nhu cầu xã hội: Đây là nhu cầu mong muốn mở rộng các mỗi quan hệ của mình nhiều hơn như tình bạn, tình yêu, dồng nghiệp, đối tác,… qua các mối quan hệ bạn bè, người yêu, câu lạc bộ. Nhà quản lý có thể thỏa mãn nhu cầu này cho nhân viên dưới quyền bằng các hình thức như hoạt động nhóm, tạo cơ hội phát triển các 8 mối quan hệ cho nhân viên như tổ chức các chuyến du lịch, câu lạc bộ, hoạt động sinh hoạt tập thể ngoài trời,… - Nhu cầu được kính trọng: Ở cấp này, nhu cầu của con người mong muốn có địa vị được người khác coi trọng, chấp nhận cũng như nhu cầu tự coi trọng mình. Trong doanh nghiệp, nhà quản lý thỏa mãn nhu cầu này cho người lao động bằng nhiều hình thức khác nhau như khen ngợi kịp thời khi nhân viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đề bạt vào các vị trí phù hợp với năng lực, trình độ chuyên môn của họ, lắng nghe ý kiến của nhân viên. - Nhu cầu tự hoàn thiện mình: Đây là nhu cầu cao nhất của con người, nhu cầu nằm ở đỉnh tháp khi đã được thỏa mãn mọi nhu cầu phía dưới.
Nhu cầu được trưởng thành và phát triển, biến các năng lực của mình thành hiện thực hoặc nhu cầu đạt được các thành tích mới và có ý nghĩa. Nhà quản lý cho phép nhân viên tự chủ trong công việc, giao cho nhân viên công việc có tính thách thức để họ có thể phát huy tối đa tài năng, trí tuệ của mình. Hầu hết mọi người đều tồn tại cả 5 nhu cầu này. Nhìn vào sơ đồ có thể thấy rằng mỗi một nhu cầu được đáp ứng thì nhu cầu phía sau càng trở nên quan trọng hơn.
Do đó, nguyên tắc các nhu cầu thấp hơn phải được thỏa mãn trước khi tiến đến thỏa mãn các nhu cầu ở cấp bậc cao hơn. Nhà quản trị căn cứ vào đó sẽ tạo động lực thúc đẩy người lao động làm việc tốt hơn, giúp cho họ yên tâm với công việc hơn bằng cách thỏa mãn những nhu cầu hiện tại của họ. Từ đó, có các biện pháp và định hướng chính xác để thỏa mãn nhu cầu đó một cách hợp lý.