phần mở đầu và kết luận, Luận văn đƣợc kết cấu thành bốn chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về tạo động lực cho ngƣời lao động trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng công tác tạo động lực cho ngƣời lao động tại Công ty cổ phần Tổng công ty Sông Gianh - Chi nhánh tại Bắc Ninh. Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động tại Công ty cổ phần Tổng công ty Sông Gianh - CN tại Bắc Ninh.ninh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.ninh CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu nƣớc ngoài Vấn đề tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động đƣợc quan tâm rất sớm trên thế giới. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các học giả nƣớc ngoài và nó chính là nền tảng lý thuyết cho các nhà quản trị ứng dụng trong công tác tạo động lực làm việc tại các tổ chức, doanh nghiệp.
Ngoài ra còn có các học thuyết về nội dung tạo động lực tiêu biểu nhƣ của Maslow, Alderfer, Herzberg. Các học thuyết này đã chỉ ra cách tiếp cận với các nhu cầu của ngƣời lao động. Trong đó tháp nhu cầu của Maslow đƣợc ông đƣa vào năm 1943, đây là một trong những lý thuyết quan trọng trong lĩnh vực quản trị nhân sự, tạo động lực chongƣời lao động. Maslow đã chỉ ra nhu cầu con ngƣời theo thứ tự từ cơ bản cho đến bậc cao.
Để tạo đƣợc động lực cho nhân viên, các nhà quản lý phải hiểu rõ mong muốn nhân viên của họ đang ở mức độ nào để có những hình thức đáp ứng phù hợp. Các học thuyết về quá trình của J.Stacy Adams, Victor Vroom. Tìm hiểu lý do mà mỗi ngƣời thể hiện hành động khác nhau nhƣ trong công việc. Nhƣ học thuyết của Victor Vroom nhấn mạnh mối quan hệ nhận thức: Con ngƣời mong đợi cái gì? Ông chỉ ra động lực là chức năng của sự kỳ vọng của cá nhân.
Mỗi nỗ lực nhất định sẽ đem lại thành tích nhất định và thành tích đó sẽ dẫn đến các kết quả hoặc phần thƣởng mong muốn. Học thuyết này gợi ý cho các nhà quản lý rằng cẩn phải làm cho ngƣời lao động hiểu đƣợc mối quan hệ trực tiếp giữa nỗ lực – thành tích, thành tích – kết quả/phần thƣởng cũng nhƣ cần chú trọng tạo nên sự hấp dẫn của các kết quả/ phần thƣởng đối với ngƣời lao động.ninh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.ninh Một số nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề tạo động lực cho nhân viên nhƣ nghiên cứu của Marc Buelens & Herman Van den Broeck (2007) trên tạp chí Public Administration Review số tháng 1-2 đã triển khai nghiên cứu “ Phân tích sự khác biệt trong động lực làm việc giữa những tổ chức ở khu vực công và khu vực tƣ”. Nghiên cứu đƣợc tiến hành để tìm ra sự khác biệt về động lực làm việc của ngƣời lao động ở khu vực công so với khu vực tƣ nhân. Dữ liệu nghiên cứu đƣợc thu thập từ cuộc điều tra gồm 3314 nhân viên ở khu vực tƣ và 409 nhân viên làm việc ở khu vực công tại vƣơng quốc Bỉ.
Nghiên cứu này còn chỉ ra đƣợc sự khác biệt trong động lực làm việc giữa phụ nữ và nam giới (phụ nữ dành thời gian làm việc ở văn phòng ít hơn và dành nhiều thời gian hơn cho các công việc gia đình. Thông thƣờng, phụ nữ ít có thời gian để thƣ giãn, nghỉ ngơi hơn đàn ông. Động lực làm việc của phụ nữ là các yếu tố nhƣ tiền lƣơng và các mối quan hệ tốt đẹp trong tổ chức). Bên cạnh đó, kết quả phân tích còn cho thấy ngƣời lao động lớn tuổi ít có xu hƣớng rời bỏ tổ chức.
Họ mong muốn đƣợc làm việc trong một môi trƣờng có nhiều sự cảm thông, hỗ trợ, và ít đƣợc thúc đẩy bởi yếu tố tiền lƣơng. Hơn nữa, cấp bậc quản lý đƣợc xem là nhân tố đặc biệt quan trọng trong việc giải thích số giờ làm việc và sự cam kết đối với công việc. Nghiên cứu của Stringer (2011) đƣợc thực hiện với tên đề tài “Động cơ, sự thỏa mãn về lƣơng, sự thỏa mãn công việc của nhân viên tiếp xúc trực tiếp với khách hàng”. Nghiên cứu này đƣợc tiến hành nhằm mục đích khám phá mối quan hệ giữa động cơ bên trong và động cơ bên ngoài, sự thỏa mãn về lƣơng, thỏa mãn về công việc của nhân viên khi sử dụng kế hoạch trả lƣơng theo năng suất.
Nghiên cứu này đƣợc thực hiện theo phƣơng pháp nghiên cứu trƣờng hợp ở 7 cửa hàng, thông qua phỏng vấn trực tiếp nhân viên và quản lý bằng các bảng câu hỏi mở. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng động cơ bên trong có mối quan hệ với tiền lƣơng và sự thỏa mãn công việc, trong khi 6 (LUAN.ninh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.ninh đó động cơ bên ngoài có mối quan hệ dƣơng với sự thỏa mãn công việc nhƣng không có mối quan hệ với sự thỏa mãn về lƣơng. Ngoài ra nghiên cứu còn cho thấy rằng sự công bằng về lƣơng là quan trọng bởi ngƣời lao động thƣờng có xu hƣớng so sánh lƣơng của mình với lƣơng ngƣời khác. Và khi xảy ra trƣờng hợp lƣơng chi trả không giống nhau họ sẽ nhận thấy là không công bằng đối với năng suất làm việc của mình.
Denibutun (2012) đã có nghiên cứu “Động lực làm việc: Khung lý thuyết”. Cho đến nay trên thế giới đã có khá nhiều các học thuyết khác nhau hƣớng đến việc nỗ lực giải thích bản chất của động lực làm việc. Nghiên cứu này đƣợc thực hiện nhằm chỉ ra đƣợc sự khác nhau giữa các lý thuyết về động lực làm việc và xem xét động lực làm việc nhƣ một quá trình tâm lý cơ bản của con ngƣời. Các lý thuyết về động lực giúp giải thích hành vi của một ngƣời nhất định tại một thời điểm nhất định.
Có thể chia các học thuyết này thành 2 nhóm: Nhóm 1 là những học thuyết tập trung nhận dạng những nhu cầu của cá nhân có ảnh hƣởng đến hành vi của họ ở nơi làm việc, bao gồm: Lý thuyết tháp nhu cầu của Maslow, mô hình tháp nhu cầu điều chỉnh của Alderfer, thuyết 2 yếu tố của Herzberg (gồm nhóm yếu tố thúc đẩy và nhóm yếu tố duy trì, thuyết thành tựu thúc đẩy của McClelland ( gồm: nhu cầu thành tựu, nhu cầu quyền lực, nhu cầu liên minh). Nhóm 2 là những học thuyết quá trình tập trung nghiên cứu vào quá trình tƣ duy của con ngƣời. Quá trình tƣ duy này có ảnh hƣởng đến quyết định thực hiện những hành động khác nhau của con ngƣời trong công việc, bao gồm các lý thuyết sau: Thuyết kỳ vọng của Vroom, thuyết công bằng của Adams, lý thuyết mục tiêu của Locke, thuyết thẩm quyền của Heider và Kelley. Vấn đề tạo động lực đƣợc các tác giả nổi tiếng trên thế giới viết thành sách và in xuất bản.Cuốn sách “Thuật thúc đẩy nhân viên” Tác giả Brian Tracy đã chỉ ra bốn yếu tố về động lực.
Bốn yếu tố đó là : Phong cách lãnh 7 (LUAN.ninh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.ninh đạo, hệ thống khen thƣởng, môi trƣờng tổ chức và cấu trúc công việc. Ông đã đƣa ra một số phƣơng pháp thúc đẩy nhân viên nhƣ “Hãy là một giáo viên”, “ Đào tạo và hƣớng dẫn liên tục”, “ Trở thành cố vấn”, “ Lãnh đạo bằng tấm gƣơng”, “ Lắng nghe nhân viên”. Mỗi phƣơng pháp ông đều viết riêng thành từng chƣơng một. Điều này giúp ngƣời đọc nắm rõ đƣợc nội dung và có thể vận dụng vào tổ chức của mình.2 Tổng quan công trình nghiên cứu trong nƣớc Trong nƣớc cũng có nhiều nghiên cứu về đề tài tạo động lực cho ngƣời lao động.
Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào 3 nhóm: Luận văn thạc sĩ, tiến sĩ về tạo động lực, các nghiên cứu khoa học đƣợc đăng trên tạp chí khoa học, giáo trình về quản trị nguồn nhân lực. Về giáo trình, cuốn giáo trình đƣợc sử dụng phổ biến là “Quản trị nguồn nhân lực” do Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm đồng chủ biên- Nhà xuất bản kinh tế Quốc Dân. Trong giáo trình vấn đề tạo động lực cho ngƣời lao động đã đƣợc viết thành một chƣơng riêng biệt. Các khái niệm về động lực lao động và các yếu tố ảnh hƣởng tới tạo động lực lao động đã đƣợc làm rõ.
Các học thuyết nhƣ học thuyết nhu cầu của Maslow,học thuyết công bằng, học thuyết kỳ vọng,. cũng đƣợc giới thiệu trong giáo trình này. Qua đó gợi ý một số phƣơng pháp tạo động lực cho ngƣời lao động. Giáo trình “Quản trị nguồn nhân lực” Trần Xuân Hải và Trần Đức Lộc đồng chủ biên- nhà xuất bản tài chính.
Cuốn giáo trình cũng đã trình bày rõ về cách thu hút nhân viên, đánh giá thực hiện năng lực công việc, thù lao lao động, quan hệ lao động. Về các nghiên cứu khoa học có nghiên cứu “Xây dựng khung lý thuyết về động lực làm việc ở khu vực công tại Việt Nam” của tác giả Hoàng Thị Hồng Lộc và Nguyễn Quốc Nghi đăng tên tạp chí khoa học Trƣờng Đại học Cần Thơ, khoa học xã hội, nhân văn và giáo dục: 32(2014) trang 97-105.ninh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.ninh cứu đƣợc thực hiện nhằm xây dựng một khung lý thuyết phục vụ cho mục đích khám phá các nhân tố chính ảnh hƣởng đến động lực làm việc của nhân viên ở khu vực công (Đối tƣợng là cán bộ công chức, viên chức tại Việt Nam). Phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong nghiên cứu này là phƣơng pháp nghiên cứu phân tích – tổng hợp nhằm kế thừa những phát hiện có giá trị từ các nghiên cứu trƣớc của cộng đồng khoa học trong và ngoài nƣớc.Đồng thời nghiên cứu còn thể hiện sự cân nhắc kỹ lƣỡng đến các đặc trƣng của một nền văn hóa tập thể và bối cảnh kinh tế - xã hội nƣớc ta hiện nay. Bài đăng của tác giả Bùi Thị Minh Thu và Lê Nguyễn Đoan Khôi (2014) Tạp chí Khoa học Trƣờng Đại học Cần Thơ, Phần D: Khoa học chính trị, Kinh tế và Pháp luật 35 (2014) trang 66-78 về vấn đề “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc của nhân viên trực tiếp sản xuất ở Tổng công ty lắp ráp máy Việt Nam ( Lilama).