Chương 1: Cơ sở lý luận của việc vận dụng Thuyết hai yếu tố của F.Herzberg vào xây dựng biện pháp tạo động lực làm việc cho giảng viên của trường Đại học. Chương 2: Đánh giá thực trạng tạo động lực cho giảng viên tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội dựa trên Thuyết hai yếu tố của F. Chương 3: Dự báo môi trường, định hướng và đề xuất một số biện pháp tạo động lực cho giảng viên tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội dựa trên Thuyết hai yếu tố của F. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG THUYẾT HAI YẾU TỐ CỦA F.HERZBERG VÀO XÂY DỰNG BIỆN PHÁP TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO GIẢNG VIÊN CỦA TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1.
Cơ sở lý luận về tạo động lực cho giảng viên của trƣờng Đại học 1. Khái niệm về động lực, tạo động lực Khái niệm động lực Đối với các tổ chức nói chung, việc người lao động hoàn thành công việc của mình với hiệu quả cao là điều mà bất kỳ nhà quản lý nào cũng mong muốn. Tuy nhiên, dù làm việc trong cùng một điều kiện môi trường như nhau nhưng sẽ có người lao động hăng say, có kết quả thực hiện công việc cao nhưng cũng sẽ có người làm việc uể oải, không có hứng thú với công việc, bỏ bê công việc và có kết quả thực hiện công việc thấp. Theo các nhà kinh tế học, nguyên nhân của sự khác biệt này nằm ở động lực lao động của mỗi cá nhân trong quá trình thực hiện công việc.
Tùy thuộc vào các cách tiếp cận khác nhau mà có các khái niệm khác nhau về động lực. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của ThS. Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân thì “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và trong môi trường sống và làm việc của con người” [13, tr134] Theo giáo trình Hành vi tổ chức, TS.
Bùi Anh Tuấn đã chỉ ra “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động. Khi bàn về động lực của người lao động trong tổ chức, các nhà quản lý thường thống nhất ở một số điểm sau đây: Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trường làm việc, không có động lực nào chung chung không gắn với công việc cụ thể nào; Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân. Điều đó có nghĩa là không có người có động lực và người không có động lực.
Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực sẽ dẫn tới năng suất, hiệu quả công việc cao hơn. Tuy nhiên, không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc bởi vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn phụ thuộc vào khả năng của người lao động, phương tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc; Người lao động nếu không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành công việc. Tuy nhiên, người lao động nếu mất động lực hoặc suy giảm động lực sẽ không mất khả năng thực hiện công việc và có xu hướng ra khỏi tổ chức.90] Từ điển tiếng Anh Longman định nghĩa “Động lực làm việc là một động lực có ý thức hay vô thức khơi dậy và hướng hành động vào việc đạt được một mục tiêu mong đợi”. Theo định nghĩa này thì động lực làm việc có thể ở dạng có ý thức hay vô thức, vì vậy không phải lúc nào chúng ta cũng biết rõ điều gì đã tạo động lực cho chúng ta.
Động lực làm việc là sự thôi thúc khiến người ta hành động vì thế nó có một ảnh hưởng rất mạnh, ảnh hưởng này có thể tốt hoặc xấu” [29,tr.6] Theo tác giả Stephen P.Robbins và Timothy A.Judge thì “Động lực là các quá trình thể hiện cường độ, định hướng và mức độ nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục tiêu. […] Trong đó: Cường độ mô tả mức độ cố gắng của một 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người. Tuy nhiên, cường độ cao không chắc sẽ dẫn đến kết quả công việc mong muốn nếu những nỗ lực đó không được khai thác theo định hướng mang lại lợi ích cho tổ chức. Sự bền bỉ là thành tố chỉ thời gian một người có thể duy trì nỗ lực.
Trong các tổ chức hiện nay, với quan điểm người lao động là một nguồn lực quan trọng của tổ chức thì các nhà quản lý luôn đặt ra câu hỏi: “Làm thế nào để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức? Làm sao để người lao động có thể hăng hái, nhiệt tình và làm việc có hiệu quả?”. Và để trả lời cho câu hỏi đó thì hệ thống nhu cầu, lợi ích, mong muốn của người lao động đã được để cập đến để tạo ra động cơ hay động lực cho họ trong quá trình làm việc. Khái niệm tạo động lực Mỗi người lao động làm việc trong tổ chức đều có những lý do khác nhau, có người làm việc vì mức lương cao, có người làm việc vì được tôn trọng, có người làm việc vì có đồng nghiệp tốt, có người lại làm việc vì môi trường làm việc có thể học hỏi và cho họ nhiều cơ hội phát triển bản thân…Nhưng dù vì lý do gì thì những thứ mà người lao động dành được từ công việc đều ảnh hưởng đến tinh thần, động lực làm việc và chất lượng cuộc sống của họ. Chính vì vậy, để người lao động thực hiện nhiệm vụ một cách có hiệu quả trong tổ chức thì điều tất yếu mà các nhà quản lý cần làm là sử dụng các biện pháp để tạo động lực thúc đẩy người lao động làm việc.
Bùi Anh Tuấn thì “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc. Tạo động lực cho người lao động là trách nhiệm và mục tiêu của quản lý. Một khi người lao động có động lực làm việc, thì sẽ tạo ra khả năng tiềm năng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác” [25, tr91]. 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhà quản lý muốn tạo động lực làm việc cho người lao động cần chú ý đến các vấn đề sau: Một là, thiết lập những mục tiêu thiết thực, vừa phù hợp với mục tiêu mong muốn của cá nhân, vừa thỏa mãn được mục đích phát triển của tổ chức.
Hai là, nhà quản lý muốn nhân viên nỗ lực vì tổ chức thì phải sử dụng tất cả các biện pháp khuyến khích, bao gồm cả vật chất và tinh thần cho người lao động. Ba là, tạo động lực là trách nhiệm và cũng là mục tiêu của nhà quản lý, do đó nhà quản lý cần dùng những biện pháp tạo động lực giúp người lao động làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình, mong muốn được cống hiến và làm việc có hiệu quả hơn. Như vậy, có thể coi tạo động lực là một vấn đề mà tổ chức có thể chủ động được. Để có thể tạo động lực cho người lao động thì điều tất yếu phải xây dựng các biện pháp có khả năng thúc đẩy động lực làm việc của người lao động, đồng thời duy trì một số yếu tố liên quan đến chính sách, lương – thưởng, mức độ ổn định của công việc, các mối quan hệ…ở mức chấp nhận được hoặc cao hơn cho người lao động.
Khái niệm giảng viên, trường Đại học, trường Đại học công lập Khái niệm giảng viên Theo Luật Giáo dục, Giảng viên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục ở cơ sở giáo dục Đại học. Theo Luật Giáo dục Đại học, chức danh của giảng viên đại học bao gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư. Tiêu chuẩn của giảng viên đại học: Giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học là người có nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; đạt trình độ 26 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về chuyên môn, nghiệp vụ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 77 của Luật Giáo dục. Trình độ chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học là thạc sĩ trở lên.
Trường hợp đặc biệt ở một số ngành chuyên môn đặc thù do Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo quy định. Cụ thể mỗi ngạch giảng viên lại có những yêu cầu về trình độ như sau: Giảng viên: có bằng đại học trở lên, đã qua thời gian tập sự theo quy định hiện hành và có ít nhất 02 chứng chỉ bồi dưỡng sau Đại học. Giảng viên chính: có bằng thạc sĩ trở lên, có thâm niên công tác ở ngạch giảng viên ít nhất 9 năm, sử dụng được 1 ngoại ngữ chuyên môn ở trình độ C. Giảng viên cao cấp (phó giáo sư, giáo sư): có bằng tiến sĩ của chuyên ngành đào tạo, là giảng viên chính có thâm niên ở ngạch tối thiểu 6 năm, sử dụng được 2 ngoại ngữ để phục vụ giảng dạy, Nghiên cứu khoa học và giao tiếp quốc tế (ngoại ngữ thứ nhất tương đương trình độ C, Ngoại ngữ thứ 2 ở trình độ B), có tổi thiểu 3 đề án hoặc công trình khoa học sáng tạo được Hội đồng khoa học trường Đại học hoặc ngành công nhận và đưa vào áp dụng có hiệu quả.
Nhiệm vụ và quyền của giảng viên. Luật Giáo dục đại học năm 2013, Chương VIII, điều 55 quy định: - Giảng dạy theo mục tiêu, chương trình đào tạo và thực hiện đầy đủ, có chất lượng chương trình đào tạo. - Nghiên cứu, phát triển ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ, bảo đảm chất lượng đào tạo. - Định kỳ học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp giảng dạy.
- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của giảng viên. 27 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khái niệm trường đại học Theo Wikipedia, Trường đại học (tiếng Anh: college; La- tinh: collegium) là một cơ sở giáo dục đại học hay một phần của một viện đại học hay đại học. College có nguồn gốc từ chữ La-tinh collegium.