Tạo động lực lao động cho điều dưỡng viên trong các bệnh viện công lập tại Hà Nội

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tạo động lực lao động cho điều dưỡng viên tại bệnh viện công lập Hà Nội, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

Trường đại học

Đại học Lao động - Xã hội

Chuyên ngành

Quản trị nhân lực

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

230
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN

1.1. Tổng quan các nghiên cứu về động lực lao động và tạo động lực lao động trong tổ chức nói chung

1.2. Các nghiên cứu về động lực và tạo động lực lao động của điều dưỡng viên trong bệnh viện

1.3. Tổng quan các nghiên cứu về giải pháp tạo động lực lao động

1.4. Khoảng trống nghiên cứu

1.5. Đánh giá về những nghiên cứu ngoài nước và trong nước về động lực và tạo động lực lao động

1.6. Các nội dung nghiên cứu của luận án

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CHO ĐIỀU DƯỠNG VIÊN TRONG CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP

2.1. Điều dưỡng viên tại Bệnh viện công lập trong hệ thống y tế Việt Nam

2.2. Một số khái niệm

2.2.1. Hệ thống y tế

2.2.2. Điều dưỡng viên

2.2.3. Phân loại bệnh viện công lập trong hệ thống y tế Việt Nam

2.2.4. Vai trò của điều dưỡng viên trong bệnh viện

2.2.5. Tạo động lực lao động cho điều dưỡng viên trong bệnh viện công lập

2.2.6. Một số khái niệm

2.2.7. Động lực lao động

2.2.8. Tạo động lực lao động

2.2.9. Tạo động lực lao động cho điều dưỡng viên

2.2.10. Tiêu chí đánh giá động lực lao động của điều dưỡng viên trong bệnh viện công lập

2.3. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu của luận án

2.3.1. Cơ sở phân loại các công cụ tạo động lực lao động cho điều dưỡng viên

2.3.2. Mô hình nghiên cứu

2.3.3. Giả thuyết nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu của luận án

3.2. Dữ liệu nghiên cứu

3.2.1. Dữ liệu sơ cấp

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Nghiên cứu định tính

3.3.2. Nghiên cứu định lượng

3.3.3. Thiết kế phiếu khảo sát

3.3.4. Phát triển thang đo

3.3.5. Thiết kế mẫu nghiên cứu

3.3.6. Thu thập và xử lý thông tin trong nghiên cứu định lượng chính thức

3.3.7. Thu thập và xử lý thông tin trong nghiên cứu định lượng bổ sung

4. CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG CỤ TẠO ĐỘNG LỰC ĐẾN ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CHO ĐIỀU DƯỠNG VIÊN TRONG CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

4.1. Một số đặc điểm nguồn nhân lực điều dưỡng của nước ta

4.2. Đánh giá thực trạng động lực lao động của điều dưỡng viên trong các bệnh viện công lập trên địa bàn TP Hà Nội hiện nay

4.2.1. Đánh giá động lực lao động của điều dưỡng viên trong các bệnh viện công lập trên địa bàn TP Hà Nội theo mức độ gắn bó với công việc và bệnh viện

4.2.2. Đánh giá động lực lao động của điều dưỡng viên trong các bệnh viện công lập trên địa bàn TP Hà Nội theo “Sự nỗ lực trong công việc”

4.2.3. Đánh giá động lực lao động của điều dưỡng viên trong các bệnh viện công lập trên địa bàn TP Hà Nội theo mức độ hài lòng công việc

4.2.4. Đánh giá chung về động lực lao động của điều dưỡng viên trong các bệnh viện công lập trên địa bàn TP Hà Nội

4.3. Kết quả nghiên cứu định lượng chính thức về đánh giá tác động của các công cụ tạo động lực đến động lực lao động của ĐDV trong bệnh viện công lập trên địa bàn TP Hà Nội

4.3.1. Thống kê mô tả tổng thể mẫu nghiên cứu

4.3.2. Kiểm định độ tin cậy của các thang đo

4.3.2.1. Kiểm định Cronbach’s Anpha cho biến phụ thuộc
4.3.2.2. Kiểm định Cronbach’s Anpha cho biến độc lập

4.3.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA

4.3.4. Kiểm định phương sai trích của các nhân tố

4.3.5. Kiểm định thang đo bằng phân tích yếu tố khẳng định (CFA)

4.3.6. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu bằng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM

4.3.7. Thực trạng các công cụ tạo động lực tác động đến động lực lao động của điều dưỡng viên trong bệnh viện công lập trên địa bàn TP Hà Nội

4.3.7.1. Thù lao tài chính
4.3.7.2. Điều kiện và môi trường làm việc
4.3.7.3. Mối quan hệ với lãnh đạo
4.3.7.4. Đánh giá và ghi nhận thành tích
4.3.7.5. Đào tạo và phát triển nghề nghiệp
4.3.7.6. Mối quan hệ với đồng nghiệp
4.3.7.7. Quan hệ với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân
4.3.7.8. Trao quyền trong công việc

5. CHƯƠNG 5: LUẬN BÀN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CHO ĐIỀU DƯỠNG VIÊN TRONG CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN TP HÀ NỘI

5.1. Luận bàn về kết quả nghiên cứu

5.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao động lực lao động của điều dưỡng viên

5.2.1. Nhóm giải pháp về chính sách thù lao tài chính

5.2.2. Nhóm giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng và tạo cơ hội thăng tiến cho đội ngũ ĐDV

5.2.3. Hoàn thiện hoạt động đánh giá thực hiện công việc của điều dưỡng trong bệnh viện

5.2.4. Xây dựng văn hóa Bệnh viện để đẩy mạnh mối quan hệ hài hòa giữa các cá nhân trong bệnh viện

5.2.5. Cải thiện quan hệ giao tiếp giữa điều dưỡng với người bệnh và người nhà người bệnh

5.3. Một số kiến nghị

PHẦN KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐƯỢC CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về động lực cho điều dưỡng viên tại bệnh viện công lập Hà Nội

Động lực lao động là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Đặc biệt, điều dưỡng viên tại các bệnh viện công lập Hà Nội đóng vai trò then chốt trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Việc tạo động lực cho họ không chỉ giúp cải thiện hiệu suất làm việc mà còn nâng cao sự hài lòng của bệnh nhân. Nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến động lực lao động của điều dưỡng viên.

1.1. Định nghĩa động lực lao động trong ngành y tế

Động lực lao động được hiểu là những yếu tố thúc đẩy điều dưỡng viên làm việc hiệu quả hơn. Các yếu tố này bao gồm chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc và sự công nhận từ lãnh đạo.

1.2. Vai trò của điều dưỡng viên trong bệnh viện công lập

Điều dưỡng viên là lực lượng nòng cốt trong việc chăm sóc bệnh nhân. Họ không chỉ thực hiện các nhiệm vụ y tế mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo dựng niềm tin và sự hài lòng của bệnh nhân.

II. Thách thức trong việc tạo động lực cho điều dưỡng viên tại Hà Nội

Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc cải thiện động lực lao động cho điều dưỡng viên, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Các vấn đề như chính sách đãi ngộ chưa hợp lý, áp lực công việc cao và môi trường làm việc không thuận lợi đang ảnh hưởng đến động lực của họ.

2.1. Chính sách đãi ngộ chưa hợp lý

Nhiều điều dưỡng viên cảm thấy mức lương và phúc lợi chưa tương xứng với công sức họ bỏ ra. Điều này dẫn đến tình trạng thiếu động lực và dễ dàng rời bỏ công việc.

2.2. Áp lực công việc cao

Điều dưỡng viên thường phải làm việc trong môi trường căng thẳng, với khối lượng công việc lớn. Áp lực này có thể dẫn đến kiệt sức và giảm sút hiệu suất làm việc.

III. Phương pháp tạo động lực cho điều dưỡng viên hiệu quả

Để nâng cao động lực lao động cho điều dưỡng viên, cần áp dụng các phương pháp hiệu quả. Các giải pháp này bao gồm cải thiện chính sách đãi ngộ, tạo môi trường làm việc tích cực và khuyến khích sự phát triển nghề nghiệp.

3.1. Cải thiện chính sách đãi ngộ cho điều dưỡng viên

Cần xây dựng các chính sách đãi ngộ công bằng và hợp lý, bao gồm tăng lương và các phúc lợi khác để giữ chân nhân viên.

3.2. Tạo môi trường làm việc tích cực

Môi trường làm việc thân thiện và hỗ trợ sẽ giúp điều dưỡng viên cảm thấy thoải mái hơn trong công việc, từ đó nâng cao động lực lao động.

3.3. Khuyến khích sự phát triển nghề nghiệp

Cung cấp các khóa đào tạo và cơ hội thăng tiến sẽ giúp điều dưỡng viên cảm thấy được trân trọng và có động lực hơn trong công việc.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về động lực lao động

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các phương pháp tạo động lực hiệu quả có thể cải thiện đáng kể động lực lao động của điều dưỡng viên. Các bệnh viện công lập tại Hà Nội đã có những bước tiến trong việc áp dụng các giải pháp này.

4.1. Kết quả khảo sát về động lực lao động

Khảo sát cho thấy rằng điều dưỡng viên cảm thấy hài lòng hơn với công việc khi được áp dụng các chính sách đãi ngộ hợp lý và môi trường làm việc tích cực.

4.2. Các mô hình thành công trong việc tạo động lực

Một số bệnh viện đã áp dụng thành công các mô hình tạo động lực, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và sự hài lòng của bệnh nhân.

V. Kết luận và tương lai của động lực lao động cho điều dưỡng viên

Tạo động lực cho điều dưỡng viên là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Các bệnh viện công lập tại Hà Nội cần tiếp tục cải thiện các chính sách và môi trường làm việc để giữ chân nhân viên và nâng cao hiệu suất làm việc.

5.1. Tương lai của động lực lao động trong ngành y tế

Với sự phát triển của ngành y tế, việc tạo động lực cho điều dưỡng viên sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn. Cần có những nghiên cứu sâu hơn để tìm ra các giải pháp hiệu quả.

5.2. Đề xuất chính sách cho tương lai

Các chính sách cần được điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu và mong muốn của điều dưỡng viên, từ đó tạo ra một môi trường làm việc tốt hơn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

27/07/2025
Luận án tiến sĩ quản trị nhân lực đề tàitạo động lực lao động cho điều dưỡng viên trong các bệnh viện công lập trên địa bàn thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN 1. Tổng quan các nghiên cứu về động lực lao động và tạo động lực lao động trong tổ chức nói chung Các tổ chức hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực ngành nghề với quy mô khác nhau, luôn cố gắng tạo ra mối quan hệ mạnh mẽ và tích cực với nhân viên của họ. Tuy nhiên, nhân viên có nhiều nhu cầu cạnh tranh khác nhau được thúc đẩy bởi các động cơ khác nhau.

Nếu một số nhân viên được thúc đẩy bởi phần thưởng thì những người khác tập trung vào thành tích hoặc cơ hội thăng tiến. Do đó, điều cần thiết đối với một tổ chức và các nhà quản lý là phải hiểu điều gì thực sự cần để thúc đẩy nhân viên của mình. Trong những năm qua, có rất nhiều các học giả nổi tiếng đã nghiên cứu sâu rộng về động cơ của con người và đã đưa ra nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau về động lực lao động và tạo động lực lao động. Buchbinder và cộng sự (2007) trong nghiên cứu của mình đã tiếp cận tạo động lực theo 3 cách [41]: - Tạo động lực lao động xuất phát từ nhu cầu của người lao động.

Trong cuộc sống và trong công việc, nhu cầu của người lao động không ngừng được gia tăng. Một khi nhu cầu không được thỏa mãn sẽ tạo ra căng thẳng và trạng thái mất cân bằng. Để khôi phục sự cân bằng, tổ chức cần phải giúp NLĐ thỏa mãn nhu cầu của mình. Abraham Maslow (1954) là tác giả nổi tiếng nhất của lý thuyết nhu cầu với quan điểm người lao động có năm mức độ nhu cầu được sắp xếp từ thấp đến cao: sinh lý, an toàn, xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện bản thân.

Maslow cho rằng nhu cầu cấp thấp hơn được thỏa mãn sẽ nảy sinh các nhu cầu khác cao hơn và khi đó sẽ tạo động lực cho người lao động [70]. Như vậy, dựa trên ý tưởng này, có thể cho rằng những nhu cầu không được thỏa mãn là yếu tố mạnh mẽ nhất mà các nhà quản lý và lãnh đạo có thể sử dụng để tác động đến người lao động làm việc với nỗ lực cao nhất của họ (Oseland, 2009) [79]. Hoàng Thị Hồng Lộc và cộng sự (2014) khi vận dụng lý thuyết nhu cầu của Maslow nhằm xây dựng khung lý thuyết về động lực làm 7 việc trong khu vực công ở Việt Nam [11]. Tác giả đã chỉ ra rằng, sự khác biệt về đặc trưng của nền văn hóa tập thể và bối cảnh kinh tế - xã hội ở nước ta đã làm thay đổi thứ tự năm mức nhu cầu của cán bộ công chức, viên chức Việt Nam so với nghiên cứu Maslow đưa ra.

Mức nhu cầu thấp nhấp của cán bộ công chức Việt Nam là nhu cầu Xã hội rồi đến nhu cầu sinh lý, an toàn, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện bản thân. Như vậy có thể thấy tùy thuộc vào đặc điểm đối tượng nghiên cứu, tùy thuộc vào tính chất công việc và đặc điểm môi trường kinh tế xã hội nói chung, thứ tự ưu tiên về nhu cầu trong quá trình làm việc của người lao động là rất khác nhau. Lý thuyết hai yếu tố của Herzberg về tạo động lực được phát triển với mục đích phân biệt nhóm yếu tố duy trì và nhóm yếu tố thúc đẩy động lực làm việc (Ruthankoon & Ogunlana, 2003) [84]. Nghiên cứu của Maslow trú trọng đến các nhu cầu phát sinh tự nhiên của con người thì Herzberg trú trọng nghiên cứu đến những nhu cầu được nảy sinh trong quá trình làm việc của người lao động.

Herzberg đã tiên phong trong việc phân chia cụ thể các yếu tố có tác động duy trì người lao động làm việc và các yếu tố góp phần tạo động lực làm việc. Việc phân chia ra 2 nhóm yếu tố đã giúp cho lãnh đạo các tổ chức có những quyết định phù hợp và dễ dàng hơn trong việc lựa chọn các biện pháp nhằm gia tăng động lực làm việc cho người lao động. Cũng xuất phát từ nhu cầu của người lao động, McClelland (1960) lại tập trung vào việc thỏa mãn các nhu cầu hiện có thay vì tạo ra hoặc phát triển các nhu cầu [73]. Ông khẳng định rằng tất cả chúng ta đều có ba nhu cầu thúc đẩy ảnh hưởng đến động lực của con người.

Một người được thúc đẩy bởi khao khát quyền lực, thành tích và sự liên kết. Các mức độ nhu cầu sẽ khác nhau ở mỗi một cá nhân. Một số người có nhu cầu lớn hơn về thành tích; những người khác lại có nhu cầu liên kết mạnh mẽ hơn và có những người có mong muốn về nhu cầu quyền lực. Trong khi một nhu cầu có thể chiếm ưu thế, điều này không có nghĩa là những nhu cầu khác không tồn tại.

Lawrence và Nohria (2002) dựa trên các quan điểm đi trước cũng đã đưa ra lý thuyết động lực lao động của con người [63]. Tác giả cho rằng nền tảng cho động lực của nhân viên gồm bốn động lực - động lực để tiếp thu, động lực liên kết, động lực tìm hiểu và và động lực bảo vệ. Nghiên cứu cũng chỉ rõ hệ thống phần 8 thưởng đáp ứng động lực để tiếp thu, văn hóa đáp ứng động lực để liên kết, thiết kế công việc đáp ứng động lực để tìm hiểu và các quy trình quản lý hiệu suất và phân bổ tài nguyên đáp ứng động lực bảo vệ. Khi các đòn bẩy tổ chức này được sử dụng để thực hiện các hoạt động tạo động lực của nhân viên và làm cho hiệu suất của tổ chức sẽ được tối đa hóa.

Cũng xuất phát từ việc xác định nhu cầu của người lao động trong tạo động lực lao động, Vũ Thị Uyên (2008) cho rằng để tạo động lực lao động cho nhân viên thì việc quan trọng nhất là phải hiểu rõ nhu cầu của họ [29]. Khi xác định chính xác nhu cầu của người lao động đồngg thời lãnh đạo sử dụng các giải pháp phù hợp nhằm đáp ứng các nhu cầu đó thì động lực lao động sẽ được gia tăng. Trương Minh Đức (2011) cũng đồng ý quan điểm trên. Tác giả nhấn mạnh “Để tạo động lực làm việc cho người lao động, nhà quản lý cần phải thấu hiểu nhu cầu làm việc của người lao động, họ làm vì cái gì, điều gì thúc đẩy họ làm việc hăng say để từ đó có cách thức tác động phù hợp giúp cho động lực lao động của người lao động được gia tăng” [27].

Nghiên cứu của tác giả đã sử dụng lý thuyết tháp nhu cầu của Maslow kết hợp với xây dựng mô hình hồi quy để đánh giá mức độ tạo động lực làm việc cho các nhân viên trong công ty. Kết quả đã cho thấy mức lương cơ bản, tổng mức thu nhập của nhân viên, các nhà quản lý tại doanh nghiệp chưa đảm bảo, nhu cầu an toàn trong công việc, điều kiện làm việc chưa được thỏa mãn. Từ đó định hướng một số vấn đề giúp các nhà quản lý lưu ý để tạo động lực lao động cho nhân viên. Với quan điểm tiếp cận về tạo động lực dựa trên nhu cầu của người lao động, có thể thấy quá trình tạo động lực được bắt đầu bởi sự căng thẳng gây ra bởi mong muốn thỏa mãn nhu cầu.

Sự căng thẳng khiến người lao động có thái độ nỗ lực và cố gắng để đạt được mục tiêu mong muốn của bản thân nhằm thỏa mãn nhu cầu. Nhu cầu đạt được sẽ tạo cảm giác hài lòng của người lao động làm cho trạng thái căng thẳng của người lao động được suy giảm. Mức độ hài lòng đạt được càng cao thì động lực lao động cũng được gia tăng. - Quan điểm tạo động lực thông qua các phương tiện bên ngoài.

Cách tiếp cận này được tác giả Skinner vận dụng trong tạo động lực lao động cho người lao động. Skinner nhấn mạnh rằng, người lãnh đạo trong tổ chức không nên quá chú trọng vào điểm yếu, kém của nhân viên mà nên sử dụng các chính sách thù lao đãi ngộ hợp lý để giúp họ cải thiện và nâng cao hiệu quả công việc. Các nhà lãnh đạo trong tổ chức cần sử dụng nhiều hình thức nhằm công khai động viên, khuyến khích và khen ngợi nhân viên của mình. Việc phê bình nhân viên cần mang tính xây dựng và phê bình sự việc chứ không phải chỉ trích con người.

Phê bình nên đi kèm với khen ngợi để giảm thiểu việc chỉ trích nhân viên trực tiếp trước mặt đồng nghiệp. Nó không liên quan đến những gì khởi xướng hành vi. Tuy nhiên, nó cung cấp một phương tiện phân tích mạnh mẽ về việc kiểm soát hành vi của người lao động. Do đó, nó được vận dụng trong việc tạo động lực lao động.

- Cách tiếp cận thứ 3 đó là dựa trên các yếu tố nội tại tập trung vào các quá trình suy nghĩ bên trong và nhận thức về động lực. Cách tiếp cận này liên quan đến nhận thức của mọi người về môi trường làm việc của họ và cách họ giải thích và hiểu về việc làm thế nào để tạo động lực lao động. Ông cho rằng nỗ lực của nhân viên sẽ dẫn đến hiệu suất và hiệu suất sẽ dẫn đến phần thưởng. Ông đưa ra giả thuyết rằng để một người có động lực thì cần phải có sự liên kết giữa nỗ lực, hiệu suất.

Vroom nhận ra rằng hiệu suất của một nhân viên dựa trên các yếu tố cá nhân chẳng hạn như tính cách, kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm và khả năng. Và một số yếu tố có thể đóng góp vào nhận thức kỳ vọng của họ: mức độ tự tin vào các kỹ năng cần thiết cho công việc, sự hỗ trợ từ lãnh đạo và đồng nghiệp, điều kiện và môi trường làm việc, sự sẵn có của nguồn thông tin. Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào phần thưởng mà họ nhận được. Phần thưởng càng tích cực thì nhân viên càng có động lực cao.

Nếu như Vroom cho rằng động lực lao động được tạo ra từ những kỳ vọng của nhân viên thì Locke & Latham (1990) cho rằng việc thiết lập các mục tiêu hiệu suất cụ thể, đầy thách thức và cam kết với các mục tiêu này là những yếu tố chính quyết định tạo ra động lực lao động [65]. Các mục tiêu khó cụ thể luôn dẫn đến hiệu suất tốt hơn các mục tiêu không cụ thể. Greenberg và Baron (2000) cũng ủng hộ quan điểm và cho rằng những mục tiêu được cụ thể hóa và có tính thách thức sẽ giúp cho việc thực hiện 10 công việc được tốt hơn từ đó động lực lao động sẽ được duy trì và gia tăng [48].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ