chương 1. Những giá trị khoa học được kế thừa và khoảng trống cần được nghiên cứu. Đã có rất nhiều nghiên cứu về chủ để “Tạo động lực làm việc cho người lao động” ở trong nước và nước ngoài với nhiều ý tưởng, lý luận, lập luận hay, trong đó cũng không ít các giải pháp đã áp dụng vào thực tế. Song do đặc thù của từng doanh nghiệp và thời điểm áp dụng khác nhau nên để áp dụng vào thị trường Việt Nam còn nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu thêm, các nghiên cứu đều dựa trên số liệu, đánh giá và các học thuyết nhằm mục đích mở ra các cơ hội trong cách quản lý nguồn nhân lực, các giải pháp, định hướng, đề xuất với mong muốn phát huy được tối đa tiềm năng, năng lực của người lao động và công việc hay phát triển doanh nghiệp vững mạnh.
Với sự phát triển của nền kinh tế, sự hội nhập kinh tế quốc tế, hiện thực hóa tầm nhìn và khát vọng của Việt Nam thì việc vấn đề tạo động lực cho người lao động luôn được quan tâm hơn, mục tiêu để tìm ra nguồn lao động chất lượng phát triển 1 Việt Nam vững mạnh vang tầm quốc tế. Đã có nhiều doanh nghiệp đưa nguồn lao động chất lượng tham gia vào quá trình phát triển sản phẩm cũng như nghiên cứu ra những sản phẩm giúp cho Việt Nam không phụ thuộc về các nước bạn mà còn được chia sẻ công nghệ sản xuất sản phẩm ngay tại nước ta. Việc quản lý nguồn nhân lực trên thị trường lao động biến động đòi hỏi các nhà quản lý phải có những kỹ năng và chiến lược thu hút nhân tai, tạo động lực thông qua chính sách hay đào tạo không còn xa lạ nữa thêm vào đó còn đánh mạnh vào chế độ đãi ngộ sự quan tâm về cuộc sống… Các Luan van 9 nghiên cứu đã chỉ ra rất cụ thể, lập luận chặt chẽ và dựa vào cơ sở thực tiễn nhằm phát huy chất xám vốn đang tiềm ẩn của người lao động. tuy nhiên các nghiên cứu đều dựa vào đặc thù của từng doanh nghiệp nên việc đưa ra 1 công cụ cụ thể để quản lý nguồn nhân lực gần như chưa đồng nhất và còn hạn chế.
Sau khi nghiên cứu các đề tài trong và ngoài nước có rất nhiều cách áp dụng thông qua mô hình của, Maslow và Herzberg để nghiên cứu. Các mô hình đưa ra, áp dụng vào nghiên cứu tại các doanh nghiệp chỉ ra giải pháp và phương hướng tạo động lực làm việc cho NLĐ. Với đề tài “Tạo động lực cho cán bộ công nhân viên tại Trung tâm Kinh Doanh VNPT – Bắc Giang”, tác giả dùng mô hình thuyết hai yếu tố của Herzberg để nghiên cứu và áp dụng tại Doanh nghiệp của mình đang công tác: - Với mô hình thuyết hai yếu tố của Herzberg là một mô hình được dùng và ứng dụng thực tế, được đánh giá là hiệu quả ở Việt Nam hiện nay. Mô hình này dựa trên yếu tố duy trì và tạo động lực để thúc đẩy điểm mạnh vốn có của NLĐ mà người sử dụng lao động chưa khai thác hết.
- Đối với Trung tâm Kinh Doanh VNPT – Bắc Giang cũng đang áp dụng biện pháp tạo động lực theo mô hình hai học thuyết của Herzberg nên tác giả sử dụng mô hình này để đánh giá thực trạng hiện tại đơn vị. - Trung tâm Kinh Doanh VNPT – Bắc Giang là một doanh nghiệp nhà nước, hạch toán độc lập và có chiến lược phát triển riêng. Việc tạo động lực cho NLĐ cũng là bài toán giúp thúc đẩy các ý tưởng, sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đem lại kết quả thực tế là doanh thu, là lợi nhuận cho doanh nghiệp. Một số khái niệm cơ bản 1.
Nhu cầu Theo tác giả Bùi Anh Tuấn nghiên cứu năm 2003 cho rằng: “Nhu cầu là hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển”. Năm 2011 theo nghiên cứu của tác giả TS. Bùi Thị Xuân Mai lại cho rằng: “Nhu cầu rất phong phú và đa dạng, nó thay đổi theo môi trường và bối cảnh, là những Luan van 10 mong muốn của cá nhân mục đích để sinh tồn và phát triển”. Theo Giáo sư Hoàng Phê (2018), trong cuốn sách Từ điển Tiếng Việt – NXB Hồng Đức thì nhu cầu có nghĩa là “điều đòi hỏi của đời sống, tự nhiên và xã hội” Hay theo tác giả Alfred Marshall (2015) trong cuốn giáo trình Nguyên lý kinh tế cho rằng “Nhu cầu được hiểu là sự cần thiết về một điều gì đó”.
Có thể thấy, về nhu cầu của các cá thể sống là một hệ thống phức tạp, nhiều tầng lớp, và nhờ có tính đa dạng của đối tượng đã tạo nên sự vô hạn của nhu cầu. Nhu cầu của con người rất đa dạng khi đáp ứng được nhu cầu vật chất thì con người thường có xu hướng hưởng thụ được gọi là nhu cầu tinh thần, khi đáp ứng được 2 nhu cầu tinh thần và vật chất thì người lao động sẽ hướng tới nhu cầu xã hội như giao tiếp, hoạt động thiện nguyện. - Nhu cầu vật chất: là đáp ứng các nhu cầu cơ bản để đảm bảo cuộc sống là ăn, uống, mặc, được lao động, nghỉ ngơi, bảo vệ. - Nhu cầu tinh thần: là nhu cầu yêu và được yêu, làm việc được ghi nhận, được người khác mong muốn, coi trọng và kính trọng.
- Nhu cầu xã hội: Từ nền văn hóa hay môi trường sống, ảnh hưởng từ gia đình hoặc xã hội thì con người sẽ có những nhu cầu riêng. Có những người sẽ là nhu cầu được xã hội chấp nhận, nhu cầu về giải trí hay thiện nguyện giúp đỡ người khác hoặc cộng đồng người thuộc đối tượng cần giúp đỡ… Nhu cầu là một cách thức thể hiện tâm lý nguyện vọng của con người nhằm đáp ứng mong muốn của họ, nhu cầu cũng bị ảnh hưởng bởi tâm sinh lý của từng cá nhân khi đáp ứng được nhu cầu này họ sẽ có xu hướng một nhu cầu khác. Khi nhu cầu càng lớn thì việc hối thúc họ sáng tạo phát triển để đạt được nhu cầu mong muốn càng cao. Thỏa mãn nhu cầu của người lao động là đáp ứng về môi trường làm việc, là thu nhập tương xứng với năng lực làm việc của NLĐ, khích lệ động viên kịp thời và giúp người lao động sáng tạo.
Động lực Có nhiều khái niệm về động lực làm việc, mỗi khái niệm đều có những quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung thì chúng đều nói lên bản chất của việc nâng cao động cơ làm việc của người lao động. Theo tác giả Vũ Thùy Dương, Hoàng Văn Hải (2008) thì “Động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực làm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Trong giáo trình “Hành vi tổ chức” của nhóm tác giả Bùi Anh Tuấn, Phạm Thúy Hường và năm 2016 thì “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực làm việc là sự say mê làm việc và sẵn sàng nỗ lực nhằm đạt được hiệu quả cao, mục tiêu của tổ chức, cũng như sự ghi nhận trong công việc và sáng tạo vượt bậc bản thân của người lao động” Như vậy, có thể thấy động lực là một thuật ngữ được sử dụng rất nhiều trong đời sống kinh tế - chính trị - xã hội.
Động lực được hiểu là một sự quyết tâm thực hiện công việc được giao với sự sẵn sàng và nỗ lực hết mình để có một kết quả tốt nhất giúp tổ chức đạt được mục tiêu còn người lao động thỏa mãn được mong muốn của bản thân. Động lực là kết quả tương tác giữa doanh nghiệp với người lao động, giữa tổ chức với cá nhân nó có tác dụng chi phối, thúc đẩy suy nghĩ và hành động của người lao động để có được kết quả mong muốn. Trong một doanh nghiệp bất kỳ nào đó họ đều mong muốn người lao động của mình làm việc hiệu quả, hoàn thành công việc được giao xuất sắc. Nhưng cuộc sống nó như một đồ thị hình SIN luôn có đỉnh và đáy, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó việc tuyển dụng nhân sự phù hợp với vị trí rất quan trọng.
Thêm nữa để nhân viên tâm huyết với doanh nghiệp thì các chính sách đãi ngộ, công tác tạo động lực rất quan trọng trong doanh nghiệp để có đội ngũ lao động làm việc hăng say, có trách nhiệm và nhiệt huyết trong công việc.Động lực là kích thích các nhân tố bên trong giúp con người tạo ra năng suất, sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh đưa ra hiệu quả cao trong công việc, là sự say mê tìm tòi nhằm đưa ra các giải pháp cũng như sản Luan van 12 phẩm có ích cho doanh nghiệp. Động lực là tác động vào cá nhân người lao động, ý thức, suy nghĩ và tư duy là bài toán muôn thuở không có lời giải chính xác cho các nhà quản lý. Năm 1973 Maier và Lawler đã nghiên cứu động lực là khao khát được cống hiến của mỗi cá nhân người lao động, trong đó năng lực phụ thuộc vào bẩm sinh, kiến thức, tư duy, kỹ năng, kinh nghiệm và thông qua đào tạo… kết quả đã được thể hiện qua mô hình thực hiện công việc là một hàm số năng lực và động lực làm việc. Theo cách khác “Động lực được hiểu là cái thúc đẩy, làm cho phát triển” được nói đến trong kinh tế và “Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình” được nhà nghiên cứu Mitchell… Động lực là một nhân tố bí ẩn giúp người lao động làm việc hiệu quả, giúp doanh nghiệp/ tổ chức đạt được mục tiêu đề ra và cũng làm thỏa mãn mong muốn của người lao động.
Ngoài việc năng lực và lý thuyết được đào tạo qua sách vở thì việc đào tạo hay động lực làm việc rất quan trọng một là nhằm tạo điều kiện cho người lao động nắm bắt được công việc nhanh tự tin thực hiện, hai là trấn an tinh thần để có mục tiêu phấn đấu vì nếu không có động lực dẫn tới bất mãn và khả năng rời khỏi doanh nghiệp/ tổ chức rất cao. Đặc trưng của động lực - Động lực rất trừu tượng và khó xác định; - Động lực thường được che dấu bởi bản chất thật và các yếu tố khác như: yếu tố tâm lí, quan điểm xã hội,.