CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Khái niệm về lợi nhuận Lợi nhuận là một đề tài nghiên cứu, tranh luận của rất nhiều đối tượng. Trải qua quá trình phát triển của lịch sử, khái niệm về lợi nhuận được rất nhiều nhà kinh tế học bàn đến và đưa ra các kết luận khác nhau. Vì vậy cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận: Các nhà tư tưởng kinh tế chủ yếu của La Mã cổ đại, mà điển hình là Carton (234 – 149 TCN) trong tác phẩm “Nghề trồng trọt” cho rằng: Lợi nhuận là số dư thừa ngoài giá trị mà ông hiểu lầm là chi phí sản xuất.
Theo ông, giá trị là các chi phí về vật tư và tiền trả cho công thợ. Như vậy, trong thời kỳ La Mã cổ đại người ta hiểu được rằng lợi nhuận là phần dư thừa ngoài chi phí bỏ ra, nhưng chưa nhận thấy được lợi nhuận tạo ra từ đâu. Các nhà kinh tế thời Trung Cổ như Thomas Aquin cho rằng địa tô, lợi nhuận thương mại là sự trả công cho lao động gắn liền với việc quản lý tài sản, ruộng đất. Tại thời kỳ này, các nhà kinh tế học đã phân biệt được khái niệm: địa tô được thu từ ruộng đất, lợi nhuận thương mại được thu từ việc quản lý tài sản nhưng vẫn chưa đưa ra được quan niệm đầy đủ về lợi nhuận là lợi nhuận không chỉ thu từ ruộng đất và việc quản lý tài sản, mà lợi nhuận còn thu từ cả các lĩnh vực khác.
Trong giai đoạn từ cuối thế kỷ thứ XV đến cuối thế kỷ thứ XIX xuất hiện một số học thuyết về lợi nhuận của các trường phái như: Chủ nghĩa trọng thương cho rằng: Lợi nhuận là do lĩnh vực lưu thông tạo ra, là kết quả của việc mua bán hàng hóa. Như vậy họ cho rằng lợi nhuận chỉ được tạo ra trong lưu thông hàng hóa, mà trong sản xuất không tạo ra lợi nhuận. Do vậy, để có lợi nhuận thì chỉ cần kinh doanh buôn bán mà không cần phải sản xuất. Trường phái này chưa nhận thấy được rằng lợi nhuận trong lưu thông là do giá trị thặng dư được tạo ra từ người lao động trong sản xuất nhượng lại cho các nhà kinh doanh thương mại trong lưu thông.
Học thuyết kinh tế của trường phái cổ điển như W.Prety cho rằng: “Địa tô là giá trị nông sản phẩm sau khi đã trừ đi các chi phí sản xuất, mà các chi phí này gồm chi phí 4 về giống và tiền lương”. Trong lý thuyết địa tô của mình, W.Prety nhận thức rằng người có tiền có thể sử dụng nó bằng hai cách để có thu nhập: cách thứ nhất là dùng tiền mua đất đai mà nhờ đó có được địa tô, cách thứ hai là mang tiền gửi vào ngân hàng để thu lợi tức. Như vậy, lợi tức là thu nhập phát sinh của địa tô. Muốn xác định được lợi tức phải dựa vào địa tô.
Mức cao hay thấp của lợi tức phụ thuộc vào điều kiện sản xuất nông nghiệp. Có thể thấy học thuyết của W.Prety cũng mới chỉ nêu được lợi tức tạo ra trong lĩnh vực kinh doanh đất đai nông nghiệp và khi mang tiền gửi vào ngân hàng mà vẫn chưa nhìn nhận được lợi tức không chỉ được tạo ra từ hai lĩnh vực trên mà còn có thể thu được từ nhiều lĩnh vực kinh doanh khác. Học thuyết của trường phái trọng nông lại cho rằng: “Sản phẩm thuần túy là số chênh lệch giữa tổng sản phẩm và chi phí sản xuất. Nó là số dôi ra ngoài chi phí sản xuất, được tạo ra từ lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
Sản phẩm thuần túy là thu nhập của nhà tư bản, gọi là lợi nhuận”. Trong lý thuyết tiền lương, lợi nhuận, địa tô của A.Smith, ông nêu: “nếu như địa tô là khoản khấu trừ đầu tiên thì lợi nhuận là khoản khấu trừ thứ hai vào sản phẩm của người lao động, chúng đều có chung nguồn gốc là lao động không được trả công của công nhân”. Ông chỉ ra: lợi tức là một bộ phận của lợi nhuận mà nhà tư bản hoạt động bằng tiền đi vay phải trả cho chủ nợ để được sở hữu tư bản.Smith đã nhận thức được: lợi nhuận, lợi tức, địa tô có chung nguồn gốc là lao động không được trả công của công nhân. Lý thuyết về tiền lương, lợi nhuận và địa tô của D.Ricardo nhận thức rằng: “lợi nhuận là số còn lại ngoài tiền lương của nhà tư bản trả cho công nhân”.
Ông đã thấy được rằng lợi nhuận là phần mà nhà tư bản được hưởng ngoài phần đã trả tiền lương cho công nhân. Nhưng ông vẫn chưa nhận thức được là lợi nhuận không chỉ là số còn lại ngoài tiền lương trả cho công nhân mà là số còn lại sau khi trừ đi tất cả các chi phí họ đã bỏ ra. Các học thuyết kinh tế thời hậu cổ điển quan niệm về lợi nhuận như sau: Trong lịch sử chỉ đến thời kỳ J.Say mới có nhiều cách giải thích khác nhau về lợi nhuận. Lý thuyết lợi nhuận của J.Say cho rằng: “Lợi nhuận là hiệu suất đầu tư của tư bản mang lại”.
Theo ông, nếu đầu tư thêm tư bản vào sản xuất sẽ làm tăng thêm sản phẩm, phù hợp với phần tăng thêm về giá trị.Say: nhà tư bản 5 chính là người có tư bản cho vay để thu lợi tức, còn nhà kinh doanh là người mạo hiểm, dám chấp nhận nguy hiểm trong cuộc chơi. Họ vay tư bản, thuê công nhân, sản xuất ra hàng hóa bán trên thị trường. Vì vậy nhà kinh doanh cũng lao động như công nhân, lợi nhuận do anh ta thu được cũng giống như tiền lương công nhân. Ông đã hiểu lợi nhuận do tư bản mang lại nhưng vẫn nhầm lẫn bản chất của lợi nhuận với tiền lương công nhân, mà thực chất lợi nhuận sinh ra từ ngoài tiền lương của công nhân.
Học thuyết kinh tế tiểu tư sản, ví dụ lý thuyết về tiền lương, lợi nhuận và địa tô của Simondi cho rằng: công nhân là người tạo ra của cải vật chất, tiền lương là thu nhập của người công nhân, phần “siêu giá trị” hình thành nên lợi nhuận của nhà tư bản và địa tô của địa chủ là thu nhập không lao động, hay là sự bóc lột đối với giai cấp công nhân. Ông đã thấy được khá đúng là lợi nhuận của nhà tư bản là do lao động của công nhân tạo ra. Học thuyết kinh tế của trường phái cổ điển mới như J.Clark cho rằng lợi nhuận là năng lực chịu trách nhiệm của các yếu tố sản xuất. Ở đây công nhân bỏ sức lao động thì nhận được tiền lương, địa chủ có đất đai thì nhận được địa tô, nhà tư bản có tư bản thì nhận lợi tức tương ứng.
Tiền lương của công nhân bằng sản phẩm giới hạn của lao động, địa tô bằng sản phẩm giới hạn của đất đai, lợi tức bằng sản phẩm giới hạn của tư bản. Phần con lại là thặng dư của người sử dụng các yếu tố sản xuất hay lợi nhuận của các nhà kinh doanh. Như vậy theo học thuyết này, nếu coi lao động, tư bản, ruộng đất là khoản chi phí bỏ ra thì lợi nhuận là phần chênh lệch giữa phần thu nhập thu được trừ đi các khoản chi phí bỏ ra. Có thể thấy học thuyết này đã thấy được nguồn gốc của lợi nhuận được sinh ra từ cả lĩnh vực sản xuất và kinh doanh và đã quan niệm khá đúng đắn về cách xác định lợi nhuận.
Học thuyết kinh tế của Các Mác quan niệm rằng: “Giá trị thặng dư hay là lợi nhuận, chính là giá trị dôi ra ấy của giá trị hàng hóa so với chi phí sản xuất của nó, nghĩa là phần dôi ra của tổng số lượng lao động chứa đựng trong hàng hóa so với số lượng lao động được trả công chứa đựng trong hàng hóa”. Quan niệm trên của Các Mác về lợi nhuận là sự tiến bộ vượt bậc so với quan niệm của các trường phái trước đó. Ông đã chỉ ra đúng đắn rằng lợi nhuận được sinh ra từ giá trị thặng dư của hàng hóa hay lao động không được trả công cho người lao động. Các Mác đã kết luận 6 một cách đúng đắn rằng: “lợi nhuận và giá trị thặng dư cũng là một, lợi nhuận cũng chẳng qua chỉ là một hình thái thần bí hóa của giá trị thặng dư.
Dựa vào lý luận của Các Mác về lợi nhuận, các nhà kinh tế học hiện đại đã phân tích nguồn gốc của lợi nhuận. Mục tiêu của các doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh chính là lợi nhuận và tối đa hóa lợi nhuận. Muốn thu được lợi nhuận cao thì doanh nghiệp phải thấy được các cơ hội mà doanh nghiệp khác bỏ qua, phát triển các sản phẩm mới và tốt hơn, tiết kiệm chi phí. Nói tóm lại, nguồn gốc của lợi nhuận trong doanh nghiệp bao gồm thu nhập từ các nguồn lực mà doanh nghiệp đã đầu tư cho kinh doanh, phần thưởng cho sự sáng tạo, đổi mới.
Tiêu biểu cho học thuyết của các nhà kinh tế học hiện đại là học thuyết của nhà kinh tế học David Begg cho rằng: “Lợi nhuận là lượng dôi ra của doanh thu so với chi phí” hay cụ thể hơn: lợi nhuận được định nghĩa là sự chênh lệch giữa tổng thu nhập của một doanh nghiệp và tổng chi phí. Quan niệm trên đã chỉ ra đúng đắn bản chất và nguồn gốc của lợi nhuận. Các nhà kinh tế học xã hội chủ nghĩa quan niệm rằng: lợi nhuận của doanh nghiệp là phần doanh thu còn lại sau khi đã bù đắp các khoản chi phí vật chất cần thiết của các hoạt động kinh doanh đã được thực hiện. Theo chế độ tài chính hiện hành, lợi nhuận của toàn doanh nghiệp là số chênh lệch giữa tổng doanh thu và thu nhập với tổng chi phí từ tất cả các hoạt động của doanh nghiệp (hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động khác).
Các quan điểm về lợi nhuận tuy được phát biểu khác nhau nhưng đều có một điểm chung cho rằng lợi nhuận là phần dôi lên so với chi phí bỏ ra. Và đó cũng chính là bản chất của lợi nhuận trong nền kinh tế hiện nay. Nói tóm lại, đối với một loại hình doanh nghiệp đặc biệt như công ty chứng khoán thì lợi nhuận chính là số tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà công ty bỏ ra để đạt được doanh thu đó. Công thức xác định lợi nhuận: 𝑳ợ𝒊 𝒏𝒉𝒖ậ𝒏 = ∑𝑫𝒐𝒂𝒏𝒉 𝒕𝒉𝒖 − ∑𝑪𝒉𝒊 𝒑𝒉í Trong đó: 7 o Doanh thu là tổng giá trị mà công ty thu về được trong một kỳ kinh doanh.
Doanh thu bao gồm doanh thu từ việc bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu hoạt động tài chính và các thu nhập khác.