Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ TĂNG CƯỜNG XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN 1. Một số khái niệm về xuất khẩu hàng nông sản - Xuất khẩu Xuất khẩu hay xuất cảng, trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài. Trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF, “xuất khẩu là việc bán hàng hóa cho nước ngoài”. - Hàng hóa xuất khẩu Hàng hóa xuất khẩu là hàng hóa sản xuất để đưa ra thị trường, mua bán trao đỏi trên thị trường nhưng là thị trường nước ngoài.
Hàng hóa này phải di chuyển qua biên giới các quốc gia, đồng thời cũng phải đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng mà thị trường nhập khẩu đó đòi hỏi. [3] - Nông sản Nông sản là những sản phẩm hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động sản xuất nông nghiệp. Nông nghiệp thực hiện những công việc gì thì có những loại nông sản đó kể cả trong trồng trọt, chăn nuôi gia cầm, gia súc, thủy hải sản như: lúa, ngô, khoai, rau, vịt, gà, bò… (Từ điển Bách khoa Nông nghiệp, 1991). [7] - Xuất khẩu hàng nông sản Trong Từ điển kinh tế học hiện đại, David W.Pearce định nghĩa: Nông sản xuất khẩu (tiếng Anh: agricultural export) là các sản phẩm nông nghiệp được làm ra để xuất khẩu chứ không phải cho mục đích tự cung tự cấp hay cho thị trường trong nước.
download by : skknchat@gmail.com 6 Dựa theo Điều 28, mục 1, chương 2 luật Thương mại Việt Nam, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa khác: Xuất khẩu hàng nông sản (XKHNS) là việc nông sản được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Đặc điểm của nông sản Nông sản bao gồm những hàng hóa thiết yếu với đời sống và sản xuất của người dân ở mỗi quốc gia. Đây là sản phẩm của ngành nông nghiệp, mà bản chất là kết quả của quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi. Do vậy, nông sản mang một số đặc điểm của hoạt động sản xuất nông nghiệp [7].
Tính thời vụ Quá trình sản xuất, thu hoạch và tiêu thụ nông sản luôn mang tính thời vụ bởi các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển theo quy luật sinh vật nhất định. Mặt khác, do sự biến thiên về điều kiện thời tiết - khí hậu làm cho mỗi loại cây trồng có sự thích ứng riêng, tạo nên những mùa vụ khác nhau trong sản xuất. Vào khoảng thời gian chính vụ, nông sản thường dồi dào, phong phú về chủng loại, chất lượng khá đồng đều và giá bán rẻ. Ngược lại, khi trái vụ thì nông sản khan hiếm, chất lượng không đồng đều và giá bán thường cao.
Nông sản phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Nông sản chịu tác động lớn từ các điều kiện tự nhiên, đặc biệt là các điều kiện về đất đai, khí hậu và thời tiết. Đa phần các nông sản đều rất nhạy cảm với các nhân tố ngoại cảnh. Do vậy, mọi sự thay đổi về điều kiện tự nhiên đều tác động trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, cây trồng sinh trưởng và phát triển bình thường, cho sản lượng thu hoạch cao, chất lượng tốt.
Ngược lại, nếu điều kiện tự nhiên không thuận lợi như: nắng nóng hoặc giá rét kéo dài gây hạn hán hoặc bão lụt… sẽ gây sụt giảm về năng suất và sản lượng cây trồng. download by : skknchat@gmail.com 7 Chất lượng nông sản ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng Chất lượng nông sản luôn là tiêu chí đầu tiên được người tiêu dùng quan tâm khi quyết định mua hàng. Tại các quốc gia phát triển, đối với hoạt động nhập khẩu nông sản, ngày càng có nhiều yêu cầu khắt khe đặt ra về chất lượng, vệ sinh ATTP, kiểm dịch, xuất xứ,…của loại hàng hóa này. Nguyên nhân chính là do chất lượng của nông sản sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng.
Vì vậy, khi đời sống người dân được nâng lên thì chất lượng nông sản cũng cần được cải thiện tương ứng. Nông sản có tính tươi sống Nông sản có đặc tính tươi sống nên khó bảo quản được trong thời gian dài. Ngoài ra, nhân tố thời vụ của nông sản dẫn đến tính không phù hợp giữa sản xuất và tiêu dùng, cho nên cần quan tâm đến khâu chế biến và bảo quản cho tốt đặc biệt với nông sản xuất khẩu. Bên cạnh đó, nông sản dễ bị hư hỏng, ẩm mốc, biến chất,… do đó chỉ cần để một thời gian ngắn trong môi trường không bảo đảm về độ ẩm, nhiệt độ.
là nông sản sẽ bị hư hỏng, giảm chất lượng. Nông sản có tính đa dạng Nông sản có đặc điểm đa dạng cả về chủng loại và chất lượng. Bởi, nông sản được sản xuất ra từ các địa phương khác nhau, với các nhân tố về địa lý, tự nhiên khác nhau, mỗi vùng, mỗi hộ, mỗi trang trại có phương thức sản xuất khác nhau với các giống nông sản khác nhau cho nên chủng loại cũng khác nhau. Đây cũng là nguyên nhân làm cho chất lượng nông sản không có tính đồng đều, do đó vấn đề quản lý chất lượng nông sản thường gặp nhiều khó khăn.
Tóm lại, mỗi quốc gia sẽ có những điều kiện riêng biệt về thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng,… để phát triển một số loại nông sản nhất định. Quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ đòi hỏi mỗi quốc gia cần có những sách lược và cách làm phù hợp nhằm chuyển các nhân tố thuận lợi thành các lợi thế riêng của mình trong cạnh tranh quốc tế. download by : skknchat@gmail. Các lý thuyết về thương mại quốc tế có liên quan đến xuất khẩu hàng nông sản 1.
Lý thuyết "Lợi thế tuyệt đối" của Adam Smith Adam Smith (1723-1790) là nhà kinh tế cổ điển người Anh. Trong cuốn sách "Sự giàu có của các quốc gia” (Wealth of Nations, 1776), ông bày tỏ sự nghi ngờ về giả thuyết của Trường phái Trọng thương cho rằng sự giàu có của các quốc gia chỉ phụ thuộc vào số vàng tích trữ. Ông lập luận rằng: hai quốc gia có thể thu được lợi ích từ thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối, nghĩa là mỗi quốc gia nên chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu những hàng hoá mà mình có lợi thế tuyệt đối hơn và nhập khẩu những hàng hoá mà mình kém lợi thế [1]. Tóm lại, Adam Smith ủng hộ tự do hoá thương mại.
Lý thuyết "Lợi thế tương đối hay lợi thế so sánh" của David-Ricardo Nếu như lý thuyết về lợi thế tuyệt đối xây dựng trên cơ sở sự khác biệt lượng lao động thực tế được sử dụng ở các quốc gia khác nhau (nói cách khác là khác biệt về hiệu quả sản xuất tuyệt đối) thì lý thuyết lợi thế so sánh lại xuất phát từ hiệu quả sản xuất tương đối. Lý thuyết về lợi thế so sánh cho rằng, nếu một quốc gia biết tập trung vào sản xuất, trao đổi những hàng hóa mà việc sản xuất chúng thể hiện mối tương quan thuận lợi giữa các mức chi phí cá biệt của quốc gia đó so với mức trung bình của thế giới, đồng thời biết lựa chọn và kết hợp hợp lý giữa ưu thế của quốc gia mình với ưu thế của quốc gia khác thì sẽ đạt được hiệu quả tối đa mặc dù nguồn lực có bị hạn chế. Vì một quốc gia mà việc sản xuất các loại hàng hóa và dịch vụ không có hiệu quả bằng các quốc gia khác nhưng trong nhiều trường hợp họ vẫn thu được lợi ích, thậm chí lợi ích cao hơn những quốc gia khác nếu quốc gia đó chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa đòi hỏi nguồn lực tương đối rẻ và sẵn có trong nội địa, nhập khẩu những hàng hóa mà việc sản xuất ra chúng cần nhiều yếu tố đắt và khan hiếm [1]. download by : skknchat@gmail.
Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh Theo M.Porter thì lợi thế cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào các yếu tố như: (1) Điều kiện hay tình trạng về yếu tố sản xuất thể hiện vị thế quốc gia về nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, vốn, kết cấu hạ tầng, tiềm năng khoa học kỹ thuật…(2) Tình trạng về nhu cầu trong nước phản ánh bản chất của nhu cầu thị trường tại quốc gia đó đối với sản phẩm và dịch vụ một ngành; (3) Chiến lược, cơ cấu công ty và đối thủ cạnh tranh thể hiện cách thức, môi trường mà trong đó công ty được thành lập, tổ chức và quản lý cũng như trạng thái, bản chất của các đối thủ cạnh tranh trong nước; (4) Thực trạng các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan có khả năng cạnh tranh quốc tế; (5) Các yếu tố bất thường như: phát minh khoa học, công nghệ sinh học, đột biến chi phí đầu vào như cú sốc tiền tệ, thị trường tài chính tiền tệ, tăng cầu đột biến, các sự việc bất khả kháng như đảo chính, chiến tranh…và (6) Vai trò của Chính phủ trong việc tác động lên các yếu tố xác định lợi thế cạnh tranh quốc gia [8]. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu Hoạt động xuất khẩu hàng hóa diễn ra vô cùng phong phú và đa dạng, những hình thức xuất khẩu hàng hóa chủ yếu là: 1. Xuất khẩu trực tiếp Là việc các doanh nghiệp tự bỏ vốn ra thu mua sản phẩm từ các đơn vị sản xuất trong nước (hoặc tự sản xuất) rồi trực tiếp tiến hành các giao dịch với khách hàng nước ngoài hoặc thông qua các đại diện bán hàng và (hoặc) các nhà phân phối của mình ở những thị trường mục tiêu đó [8]. Xuất khẩu gián tiếp Là hình thức một doanh nghiệp tiến hành bán sản phẩm của mình thông qua dịch vụ của các tổ chức độc lập đặt ngay tại nước xuất khẩu.
Hình thức này thường được các doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường quốc tế thực hiện [8]. download by : skknchat@gmail. Xuất khẩu tại chỗ Là hình thức bán hàng cho người nước ngoài đang đi du lịch, cho ngoại giao đoàn… đồng tiền thanh toán là ngoại tệ, hàng hoá có thể vẫn ở trong nước [8]. Hiện nay, xu hướng di cư tạm thời ngày càng phổ biến đặc biệt là số khách du lịch nước ngoài ngày càng tăng lên nhanh chóng.
Các doanh nghiệp có thể lợi dụng điều này để tiến hành cung cấp các hàng hóa và dịch vụ để thu ngoại tệ. Phương thức xuất khẩu này giúp doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí, giảm thiểu rủi ro, do doanh nghiệp được kinh doanh trong môi trường quen thuộc.