CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC NGOẠI NGỮ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề Từ giữa thế kỷ 18 , cùng với sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp, khoa học quản lí cũng phát triển, xuất hiện các học thuyết, các trường phái quản lí mới. Chẳng hạn, Fredrick Winslow Taylor (1856- 1915) với thuyết quản lí khoa học; Henry Fayol (1841-1925) với thuyết quản lí hành chính; Mary Parker Follet (1868- 1933), Elton Mayor (1880-1949) thiên về trường phái quản lí theo quan hệ con người; G. Watson (1878-1958); Douglas Hugo Munsterberge (1683-1916); Abraham Maslow (1908-1970); Douglas Mc.Gregor (1906-1964) với thuyết quản lí theo hành vi. Về thuyết quản lí tổ chức, phải kể đến Chester Irving Barnard (1886-1961).
Về các thuyết văn hoá quản lí có thuyết Z của William Ouchi, và đại biểu của trào lưu này còn phải kể đến Thomas J. Trên nền tảng khoa học quản lí chung, khoa học quản lí giáo dục trên thế giới và Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể. Cũng từ giữa thế kỷ 18 này, trên thế giới đã xuất hiện những công trình về thực tiễn hoạt động giáo dục của K. Raumer (1842, Đức), về cải cách giáo dục của R.
Từ giữa và cuối thế kỷ 19, nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề cụ thể về giáo dục, trong đó đề cập tới quản lí giáo dục như K. Ở Việt Nam, một số tư tưởng, quan điểm về giáo dục cũng đã được các nhà nghiên cứu đề cập tới trong các công trình nghiên cứu của mình như Ngô Sĩ Liên (TK 15), Lê Quí Đôn (TK 18). Trong nửa đầu thế kỷ 19, Phan Huy Chú đã nghiên cứu chi tiết, có hệ thống về công việc điều hành, tổ chức thi cử trong giáo dục. Từ 1945, sau cách mạng tháng 8 thành công, nhiều nhà nghiên cứu và hoạt động sư phạm đã đề cập tới quản lí giáo dục, đặc biệt như LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hồ Chủ Tịch trong “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục”, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có một hệ thống các bài viết, bài nói về giáo dục.
Tiếp theo đó, có những tổng kết lí luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển, quản lí giáo dục theo một số giai đoạn như Nguyễn Văn Huyên với cuốn “ Quá trình 16 năm xây dựng giáo dục - Hà nội, 1961”, Nguyễn Khánh Toàn với “20 năm xây dựng giáo dục - Hà nội, 1965”, Nguyễn Lân với “Lịch sử giáo dục thế giới - Hà nội, 1958”,. Trưởng thành, lớn mạnh theo sự phát triển kinh tế - xã hội, khoa học quản lí giáo dục Việt nam dần dần hoàn thiện, tiếp cận với thế giới. Trong quá trình đó, xuất hiện nhiều nhà quản lí giáo dục như Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Phúc, Lê Sơn,. Vào cuối thế kỷ 20, bước sang đầu thế kỷ 21, xuất hiện những nhà nghiên cứu kết hợp với thực tiễn giáo dục ở Việt nam với những yếu tố hiện đại như Đặng Quốc Bảo với “Về phạm trù nhà trường và nhiệm vụ phát triển nhà trường trong bối cảnh hiện nay”, “ Quản lí giáo dục- nhiệm vụ và phương hướng”, NXB Đại học - Hà nội, 1996; Nguyễn Quốc Chí- Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Bài giảng Cơ sở khoa học quản lí ”, Hà nội 1996/2004; Nguyễn Văn Lê với “ Khoa học quản lí”, 1994; Bùi Văn Quân “động lực học tập và tạo động lực học tập”, Tạp chí giáo dục, tháng 12/2005.
Trang 47 “Quản lý giáo dục”, NXB giáo dục, 2007. Nghiên cứu quản lý hoạt động tự học của sinh viên nói chung đã được thực hiện trong một số nghiên cứu luận văn thạc sĩ QLGD. Theo hướng nghiên cứu này, có thể kể đến một số công trình như: “Biện pháp quản lí hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình” của tác giả Đỗ Thị Lan Hương; “Một số biện pháp tăng cường quản lí nâng cao chất lượng dạy học môn ngoại ngữ ở trung tâm Đào tạo bồi dưỡng cán bộ trường Đại học Hải Phòng” của tác giả Nguyễn Phương Lan. Rõ ràng, những nghiên cứu về quản lý tự học của sinh viên cao đẳng, đặc biệt là quản lí hoạt động tự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học ngoại ngữ nhằm tăng cường năng lực tự học cho sinh viên cao đẳng tuy đã được nhiều người quan tâm, song vẫn còn nhiều hạn chế.
Một số khái niệm công cụ 1. Tự học Thông thường, tự học được hiểu là tự mình học lấy cho mình. Tuy nhiên, chuyện tự học đề cập ở đây không phải chỉ được hiểu một cách đơn giản như vậy. Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp, cùng các phẩm chất, rồi cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành của mình”.
Giáo sư Vũ Văn Tảo nhận định: “Sự học dù dưới dạng nào, tại trường lớp hoặc ngoài trường lớp, có người thầy hướng dẫn hoặc không có thầy, có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật, của công nghệ thông tin hoặc chưa, đều phải có sự tự học… Học là một quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường sống xung quanh mình”. Nhà giáo dục John Lubbock nói: “Cái gì ta tự học được thì mới thực là của ta, hơn những cái người khác dạy cho ta”. Tự học là nội lực của người học, là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân người học. Có tự học mới phát triển được tư duy độc lập, từ chỗ có tư duy độc lập mới có tư duy phê phán, có khả năng phát hiện vấn đề, nhờ đó mới có tư duy sáng tạo.
Tự học là quá trình tích cực, tự giác chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo của chính bản thân người học. Nhờ có tự học, người học mới thực sự nắm vững tri thức, làm chủ tri thức và vận dụng những tri thức đó vào thực tiễn cuộc sống. Tự học có thể tóm tắt lại như sau: Trò học, cốt lõi là tự học, học cách học, cách tư duy. Thầy dạy cốt lõi là dạy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cách học, cách tư duy.
Tác động dạy của người thầy là ngoại lực đối với sự phát triển của người học. Theo quy luật phát triển của sự vật, ngoại lực dù quan trọng đến đâu, lợi hại đến mấy cũng chỉ là nhân tố hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện. Nội lực mới là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân sự vật. Sự vật đó phát triển đến trình độ cao khi nội lực và ngoại lực cộng hưởng được với nhau.
Hoạt động tự học là công việc mà mọi người có thể tiến hành ở mọi nơi, mọi lúc, bằng mọi cách và với mọi nội dung. Nói như giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn là thực hiện “5 mọi” trong học tập. Khi bàn về vấn đề tự học, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười có ghi trong thư gửi “Hội thảo khoa học nghiên cứu phát triển tự học, tự đào tạo” ngày 06/01/1998 như sau: “Tự học, tự đào tạo là con đường phát triển suốt cuộc đời mỗi con người trong điều kiện kinh tế – xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau, đó cũng là truyền thống quý báu của con người Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dục thành tự giáo dục.
Quy mô giáo dục được mở rộng khi có phong trào toàn dân tự học”. Hoạt động tự học diễn ra với ba hình thức sau: - Hình thức thứ nhất: Có sách, có tài liệu, người học tự tìm kiếm tri thức để thoả mãn nhu cầu nâng cao, mở rộng hiểu biết của riêng mình, bổ sung, mở rộng kiến thức ngoài chương trình đào tạo của nhà trường. Đây là tự học ở mức độ cao. - Hình thức thứ hai: Có sách, có tài liệu, và có thêm người thầy ở xa hướng dẫn tự học thông qua các phương tiện viễn thông.
Hướng dẫn tự học từ xa là hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh kiến thức. Đây là tự học có hướng dẫn. - Hình thức thứ ba: Có sách, có tài liệu, có thầy trực tiếp hướng dẫn một số tiết trong ngày, trong tuần. Tự học diễn ra dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể trước của thầy và chịu sự kiểm tra kết quả sau tự học.
Đây là hình thức trực tiếp có thầy trên lớp và về nhà tự học theo hướng dẫn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong đề tài này, căn cứ vào mục đích và phạm vi nghiên cứu, tác giả chỉ đề cập đến hoạt động tự học theo hình thức thứ ba. Sinh viên Trong tiếng Pháp, từ “étudiant” (sinh viên) được cấu thành từ từ gốc “étude” (học tập, nghiên cứu). Trong tiếng Anh, từ “student” (sinh viên) được cấu thành từ, từ gốc “study” (học tập, nghiên cứu).
Như vậy, sinh viên là những người gắn liền với công việc học tập và nghiên cứu. Về trình độ văn hoá, sinh viên là những người đã tốt nghiệp bậc học trung học phổ thông và có đủ điều kiện để học tiếp các cấp học cao hơn như cao đẳng, đại học. Hầu hết sinh viên ở độ tuổi từ 18 đến 22, đang trưởng thành về nhận thức xã hội, tinh thần và đạo đức, bắt đầu hình thành nhân cách và những phẩm chất nghề nghiệp. Sinh viên sống có niềm tin, có lý tưởng, có ước mơ cao đẹp, có hoài bão cho tương lai, có tình cảm nghĩa vụ, tinh thần trách nhiệm, khát vọng được cống hiến.
Họ có tính độc lập sáng tạo, có nguyện vọng tự khẳng định mình và mong muốn xã hội đánh giá đúng mình. Sinh viên là lứa tuổi có thể lực đang phát triển khoẻ mạnh, trí tuệ tiếp thu nhanh, nhạy bén, ham học hỏi và tìm tòi cái mới. Bên cạnh những điểm mạnh trên đây, sinh viên cũng thường bộc lộ một số nhược điểm. Họ mới rời ghế nhà trường phổ thông, chưa từng trải, có ít kinh nghiệm trong cuộc sống, tiếp thu các yếu tố bên ngoài không chọn lọc kỹ, khi có tác động của ngoại cảnh thì dễ bị ảnh hưởng.