CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA CƠ QUAN THUẾ 1. Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa hay còn gọi thông dụng là doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về vốn, lao động hay doanh thu. Căn cứ vào quy mô, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình. Ở Việt Nam, theo Điều 6, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ quy định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là Doanh nghiệp vừa. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò tương đồng như sau: - Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các doanh nghiệp nhỏ và vừa về số lượng thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (Ở Việt Nam chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 98%).
Vì thế, đóng góp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể. - Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều 7 chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định. Vì thế, doanh nghiệp nhỏ và vừa được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế.
- Làm cho nền kinh tế năng động: vì doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh hoạt động (xét về mặt lý thuyết). - Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh. - Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp các địa phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương. - Đóng góp không nhỏ giá trị GDP cho quốc gia.
Tổng quan về thanh tra, kiểm tra thuế của cơ quan thuế 1. Khái niệm thanh tra, kiểm tra thuế - Kiểm tra thuế là hoạt động thường xuyên mang tính nghiệp vụ của cơ quan quản lý thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế hoặc đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế. - Thanh tra thuế là hoạt động của cơ quan quản lý thuế nhằm đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế dựa trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp. Mục đích của thanh tra, kiểm tra thuế Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế nhằm vào các mục đích sau: - Bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và các lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân khi thực hiện chính sách pháp luật về thuế.
8 - Phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuế. - Thực hiện cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế, phát hiện những hạn chế chưa đồng bộ về cơ chế quản lý và chính sách thuế để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung. - Động viên kịp thời để phát huy nhân tố tích cực, đồng thời tăng cường phát hiện và xử lý nghiêm những hành vi tiêu cực trong việc thực hiện pháp luật thuế. Nguyên tắc và yêu cầu của thanh tra, kiểm tra thuế * Nguyên tắc: - Mọi hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật.
Khi tiến hành thanh tra, kiểm tra thuế tại trụ sở NNT phải có Quyết định thanh tra, kiểm tra do người có thẩm quyền ban hành; trong quá trình kiểm tra, thanh tra, cán bộ kiểm tra, thanh tra cần tôn trọng tính độc lập, nghiêm túc khi thực hiện các quyền trong phạm vi pháp luật cho phép. * Yêu cầu: - Đảm bảo chính xác, khách quan, công khai, dân chủ, kịp thời: Tính chính xác, khách quan nhằm để đảm bảo đánh giá đúng thực trạng, tình hình của NNT được thanh tra, kiểm tra, phản ánh đúng sự thật không thiên vị hoặc bóp méo sự việc, giúp cho việc xử lý các sai phạm đúng người, đúng việc, đúng pháp luật. Tính công khai thể hiện ở việc phải thông báo đầy đủ nội dung kiểm tra, thanh tra; tiếp xúc công khai với đối tượng kiểm tra, thanh tra và người có liên quan ở nơi kiểm tra, thanh tra; và tùy theo tính chất từng vụ việc mà có thể công khai biên bản và kết luận thanh tra, kiểm tra với NNT. Tính dân chủ, kịp thời nhằm tránh biểu hiện chủ quan, áp đặt, bất chấp ý kiến người khác, đồng thời giúp cơ quan quản lý nhà nước xử lý kịp thời những vi phạm phát hiện qua kiểm tra, thanh tra thuế.
9 - Thanh tra, kiểm tra thuế phải thực hiện đúng quy trình, do ngành thuế đã quy định. - Thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế. - Đảm bảo bí mật và không cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là người nộp thuế. - Tuân thủ quy định của Luật quản lý thuế và các quy định của pháp luật có liên quan.
Kiểm tra thuế, thanh tra thuế phải dựa vào các quy định của pháp luật và tuân thủ theo pháp luật; coi pháp luật là cơ sở pháp lý và chuẩn mực để kết luận vấn đề kiểm tra, thanh tra; tránh mọi biểu hiện chủ quan, tuỳ tiện trong quá trình tiến hành và ra kết luận kiểm tra thuế, thanh tra thuế. Phương pháp thanh tra, kiểm tra thuế Phương pháp thanh tra, kiểm tra đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra. Những phương pháp được sử dụng trong công tác thanh tra, kiểm tra bao gồm: 1. Phương pháp vận dụng kỹ thuật quản lý rủi ro Xét riêng trong lĩnh vực quản lý thuế, rủi ro được hiểu là những tổn thất có thể xảy ra phát sinh từ các hoạt động không tuân thủ pháp luật thuế trong một môi trường, hoàn cảnh cụ thể.
Quản lý rủi ro là một quá trình nhận diện, đánh giá, phân tích để có phương án giải quyết một cách có hệ thống nhằm tối đa hóa khả năng xảy ra khi có hệ quả tích cực và tối thiểu hóa khả năng xảy ra khi có hệ quả tiêu cực. Quản lý rủi ro có thể được hiểu là quá trình lựa chọn và thực hiện các giải pháp trong bối cảnh nguồn lực có hạn để giảm thiểu nguy cơ xấu đe doạ đến sự thành công của một tổ chức. Quản lý rủi ro cũng là một quá trình đo lường hay đánh giá về quy mô và tính chất nghiêm trọng của một sự việc, một hiện tượng, một vấn đề, trên cơ sở đó lập chiến lược quản lý rủi ro. Như vậy, điều quan trọng trong quản lý 10 rủi ro là dành ưu tiên mọi nguồn lực vào quản lý những rủi ro có thể gây ra tổn thất lớn nhất và những rủi ro có nhiều khả năng xảy ra nhất, tiếp đến là quản lý những rủi ro có tổn thất thấp hơn và ít có khả năng xảy ra hơn.
Việc áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thuế thực chất là việc phân loại, đánh giá người nộp thuế dựa trên hệ thống những tiêu thức rủi ro về thuế nhằm xác định những người nộp thuế có mức độ tuân thủ thấp và khả năng gian lận cao về thuế để tập trung nguồn lực thanh tra, kiểm tra theo nguyên tắc ưu tiên nguồn lực để thanh tra, kiểm tra những người nộp thuế có thể mang lại tổn thất lớn nhất và những sai phạm có nhiều khả năng xảy ra nhất. Vận dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thuế phải tuân theo những nguyên tắc nhất định và phải theo một quy trình cụ thể. Quy trình được xây dựng trong công tác quản lý rủi ro bao gồm 7 bước. Bao gồm: Bước 1: Xác định hoàn cảnh có thể xảy ra rủi ro; Bước 2: Nhận diện rủi ro, bao gồm bản thân rủi ro và nguyên nhân của rủi ro; Bước 3: Đánh giá rủi ro; Bước 4: Xử lý rủi ro tiềm ẩn (Loại bỏ rủi ro, Giảm thiểu rủi ro, Chia sẻ rủi ro, Chấp nhận rủi ro); Bước 5: Xây dựng kế hoạch quản lý rủi ro, nhằm đối phó hoặc kiểm soát phù hợp để xử lý từng rủi ro; Bước 6: Thực hiện kế hoạch quản lý rủi ro; Bước 7: Rà soát, đánh giá kế hoạch quản lý rủi ro.
Phương pháp đối chiếu, so sánh Phương pháp đối chiếu, so sánh là phương pháp nghiệp vụ được sử dụng chủ yếu trong suốt quá trình tiến hành một cuộc thanh tra, kiểm tra thuế. Cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế cần tiến hành đối chiếu, so sánh các nội dung cần thanh tra, kiểm tra để xác định tính hợp lý, khách quan, trung thực của nội dung cuộc 11 thanh tra, kiểm tra: Đối chiếu tài liệu, số liệu của đơn vị được thanh tra, kiểm tra với các đơn vị khác; đối chiếu giữa báo cáo kế toán với sổ kế toán, giữa sổ tổng hợp với chi tiết, giữa số liệu và chứng từ, giữa số liệu báo cáo và thực tế, giữa nội dung tài liệu, báo cáo sổ sách, chứng từ với chuẩn mực… 1.