Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN VỀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG NỮ TRONG NÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về sử dụng lao động nữ trong nông nghiệp 1. Lý luận chung về lao động, lao động nữ, sử dụng lao động nữ 1. Một số khái niệm * Lao động: Lao động có nhiều cách hiểu khác nhau tùy thuộc vào mỗi góc độ tiếp cận của người nghiên cứu.
Tuy nhiên nếu xét về bản chất thì lao động được hiểu là hành động của con người diễn ra giữa người với tự nhiên, chiếm giữ những vật chất trong giới tự nhiên, biến đổi những vật chất đó làm cho chúng trở nên có ích cho đời sống của mình [4]. Khi xã hội ngày càng phát triển cùng với nó khái niệm lao động đã được mở rộng hơn nhiều so với bản chất ban đầu. Lao động có mục đích, có ích cho con người tác động lên giới tự nhiên, xã hội nhằm mang lại của cải vật chất cho bản thân và cho xã hội. Lao động là điều kiện không thể thiếu được của đời sống con người, làm cho con người ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn.
Lao động làm cho con người mang tính sáng tạo ngày càng cao [4]. Trong kinh tế học, lao động được hiểu là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hóa. Người có nhu cầu về hàng hóa này là người sản xuất. Còn người cung cấp hàng hóa này là người lao động.
cũng như mọi hàng hóa dịch vụ khác, lao động được trao đổi trên thị trường, gọi là thị trường lao động. Giá cả của lao động là tiền công thực tế mà người sản xuất trả cho lao động, mức tiền công chính là mức giá của lao động vì đó là thước đo giá trị của phát triển sản xuất trong xã hội. Như vậy, lao động là nguồn gốc và động lực phát triển xã hội, không có lao động sẽ không có sự tồn tại của đời sống cá nhân cũng như xã hội loài người nói chung. Xã hội càng văn minh thì tính chất, hình thức, phương pháp tổ chức lao động càng tiến bộ [4].
download by : skknchat@gmail.com 5 Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đang định hướng phát triển bền vững trong nền kinh tế thị trường, lao động được đánh giá ở nhiều khía cạnh, cụ thể là: - Lao động là phương thức tồn tại của con người. Vì vậy lơi ích của con người phải được coi trọng trên cơ sở lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần. Bên cạnh đó lợi ích lao động là quan hệ phức tạp giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội [4]. - Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường theo định hướng XHCN lao động được xem xét dưới dạng năng suất, chất lượng và hiệu quả, đó là thước đo lao động không chỉ về số lượng, chất lượng mà cả tính tích cực, trách nhiệm lao động [4].
- Dưới bất kỳ hình thức lao động nào, người lao động không phân biệt thuộc thành phần kinh tế, nên đáp ứng được nhu cầu của xã hội, tạo ra sản phẩm, vật chất mang lại lợi ích chính đáng cho bản thân và cho xã hội đều được chấp nhận là lao động có ích. * Lao động nữ Từ khi sinh ra, lao động nữ đã mang những đặc tính riêng mà chỉ bản thân họ mới có, điều đó tạo nên sự khác biệt giữa lao động nam và lao động nữ, do đó pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật lao động nước ta nói riêng luôn có những cơ chế, chính sách phù hợp để đảm bảo đầy đủ nhất quyền lợi cho nhóm lao động đặc thù này. Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật từ trước cho đến nay sự ra đời của Bộ luật Lao động 2012 cũng chưa có bất kỳ một khái niệm chính thức nào về lao động nữ. Tuy nhiên sự khác biệt về giới tổng quan chung trong quan hệ lao động có thể hiểu “lao động nữ” là người lao động mà xét về mặt giới tính được xác định là phụ nữ.
Như vậy, cần xem xét khái niệm lao động nữ dưới các góc độ sau: Thứ nhất, xét về mặt sinh học lao động nữ là người lao động “giới tính nữ’. Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật bình đẳng giới năm 2016 thì giới tính là đặc điểm sinh học của nam, nữ. Như vậy, sự xác định giới tính là đặc download by : skknchat@gmail.com 6 điểm riêng biệt nhất để phân biệt nam và nữ, chỉ có người phụ nữ mới có thiên chức làm mẹ, có khả năng mang thai và sinh con [10]. Thứ hai, xét về mặt pháp lý thì lao động nữ là " người lao động”.
Bộ luật Lao động năm 2006 đã đề cập tới khái niệm người lao động, theo đó người lao động là “người ít nhất đủ 15 tuổi có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng” [5, Điều 6]. Còn Bộ luật Lao động 2012 thì quy định: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo Hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động” [6, Điều 3]. Về mặt bản chất người lao động nữ khi tham gia quan hệ lao động được xác định là người lao động khi họ có đầy đủ năng lực chủ thể của người lao động, nghĩa là họ có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động. Năng lực pháp luật lao động là khả năng của cá nhân mà pháp luật quy định họ có quyền được làm việc, được trả công và được thực hiện những nghĩa vụ của người lao động.
Năng lực hành vi lao động là khả năng của cá nhân bằng chính hành vi của mình trực tiếp tham gia quan hệ lao động, gánh vác nghĩa vụ và hưởng quyền lợi của người lao động [10]. Như vậy, một người đủ 15 tuổi bình thường được coi là người có khả năng để tham gia quan hệ lao động. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, người lao động vẫn có thể là người dưới 15 tuổi. Chẳng hạn như trẻ em dưới 15 tuổi có khả năng lao động cũng có thể tham gia các quan hệ lao động trong những ngành nghề như múa, sân khấu điện ảnh, hát, thủ công mỹ nghệ… đồng thời phải thỏa mãn điều kiện nhất định về độ tuổi, sức khỏe, thời gian làm việc [10].
Do đó, khái niệm về lao động nữ được hiểu như sau: người lao động nữ là người lao động có giới tính nữ, từ đủ 15 tuổi trở lên (trừ một số trường hợp ngoại lệ), có khả năng lao động, làm việc theo Hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động [10]. download by : skknchat@gmail.com 7 * Sử dụng lao động nữ Là hình thức phân công người lao động nữ vào công việc mỗi công việc có đặc tính khác nhau về chuyên môn, hình thái. Sử dụng có hiệu quả nguồn lao động nữ thực chất là việc phân bố nguồn lao động một cách hợp lý sao cho việc sử dụng lao động này đạt được mục đích là tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội [1]. Phân bố nguồn lao động nữ chính là việc phân phối, bố trí hình thành nguồn lao động theo quy luật, xu hướng tiến bộ vào các lĩnh vực hoạt động, các ngành kinh tế, các vùng lãnh thỗ [1].
Xét về bản chất thì đó là sự đổi mới tình trạng phân công lao động ngày càng tiến bộ hơn và đạt trình độ ngày càng cao hơn [1]. Phân bố nguồn lao động hợp lý phải phối hợp kết hợp hài hoà nhiều biện pháp phân bổ theo từng lĩnh vực sản xuất, từng ngành, từng nội bộ ngành kinh tế, từng vùng lãnh thổ trong phạm vi quốc gia. Một xu hướng có tính quy luật là lực lượng lao động được phân bổ và lĩnh vực sản xuất vật chất ngày càng giảm và khi nền kinh tế phát triển thì nhu cầu về hưởng thụ văn hoá tinh thần ngày càng cao và đây là nhu cầu vô hạn [1]. Đào tạo lao động, nâng cao trình độ lành nghề, trình độ chuyên môn kỹ thuật, chăm sóc sức khoẻ cho người lao động, nâng cao năng lực quản lý, chỉ đạo và tổ chức sản xuất.
Trong lĩnh vực không sản xuất vật chất phân bổ tỷ trọng lớn lao động vào các ngành nghiên cứu khoa học, y tế giáo dục, văn hoá thể thao, giảm lao động trong quản lý hành chính, lao động quản lý.Trong lĩnh vực sản xuất vật chất tăng tỷ trọng lao động, giảm tỷ trong lao động trong ngành nông nghiệp, bởi vì tăng năng suất lao động trong các ngành trên là thuận lợi hơn nó tác động trở lại ngành nông nghiệp [1]. Sử dụng lao động nữ trong các ngành kinh tế Phát triển nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực nữ nói riêng góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một trong những download by : skknchat@gmail.com 8 trọng tâm chính sách của Đảng và Nhà nước. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, luật pháp xuất phát từ chính nhu cầu, trải nghiệm và lợi ích của phụ nữ, nhằm giúp phụ nữ không ngừng phát triển về sức khỏe, học vấn và tích cực tham gia các hoạt động xã hội [24]. Năm 2012, trong hơn 67 triệu lao động ở độ tuổi từ 15 trở lên, có 48,5% lao động nữ và điều đáng chú ý là tỷ lệ nhân lực nữ tham gia lực lượng lao động chiếm đa số dân số nữ [24].
Về cơ cấu nguồn nhân lực nữ: Theo số liệu thống kê tính đến 01/01/2013, nguồn nhân lực nữ của cả nước có xu hướng tăng lên, nhưng nếu xét về cơ cấu vùng lãnh thổ thì lực lượng lao động nữ nước ta tập trung ở khu vực nông thôn (chiếm tới 69,5%), sự phân bố lực lượng lao động nữ chưa đồng đều giữa các khu vực và vùng miền [24]. Xét theo cơ cấu độ tuổi, lao động nữ chủ yếu tập trung trong độ tuổi 15-24, chiếm 14% so sánh với các nhóm tuổi khác trong cơ cấu dân số nữ từ 15 tuổi trở lên. Điều này phản ánh nguồn lao động nữ đang ở độ tuổi sung sức, có nhiều thuận lợi trong tham gia hoạt động kinh tế vì chưa vướng bận gia đình, có điều kiện và cơ hội để tăng học vấn và kỹ năng nghề nghiệp [24]. Tuy nhiên, tỷ lệ nữ thiếu việc làm và tỷ lệ nữ thất nghiệp còn cao: ở khu vực thành thị là 43,1%, khu vực nông thôn là 44,7%.