CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1. Khái niệm về Doanh nghiệp nói chung. Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế. Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Căn cứ pháp lý để xác định các loại hình DN trong nền kinh tế của nước ta đến thời điểm nghiên cứu là Luật Doanh nghiệp năm 2005, có hiệu lực thi hành từ 01/7/2006. Các loại hình Doanh nghiệp bao gồm: 1. Công ty trách nhiệm hữu hạn. Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi; Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của Doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào Doanh nghiệp; Phần vốn góp của các thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các điều 43, 44 và 45 của luật Doanh nghiệp.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Là Doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty cổ phần. Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào Doanh nghiệp; Nguyễn Hoành Dũng - Quản trị kinh doanh 2011A 11 Đề tài: Tăng cường hiệu lực của công tác QLNN đối với các DNVVN trên địa bàn quận HBT Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 điều 81 và khoản 5 điều 84 của luật Doanh nghiệp.
Công ty hợp danh. Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn; Thành viên h ợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp tư nhân là Doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của Doanh nghiệp.
Nhóm công ty. Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác 1. Khái niệm DNVVN. Trong nền kinh tế, nếu dựa vào quy mô hoạt động của các DN có thể chia DN thành 2 loại: DN lớn, DNVVN.
Các DNVVN là loại hình DN phổ biến ở hầu hết các nước. Ở nước ta, tuỳ theo điều kiên và hoàn cảnh phát triển kinh tế cụ thể m à có cách xác định quy mô DN trong từng giai đoạn nhất định, không có một tiêu chuẩn chung cho việc phân định ranh giới quy mô DN. Điểm khác biệt cơ bản trong khái niệm DNVVN giữa các nước chính là việc lựa chọn các tiêu thức đánh giá quy mô DN và lượng hoá các tiêu thức ấy thông qua những tiêu chuẩn cụ thể. Mặc dù có những khác biệt nhất định giữa các nước về quy định các tiêu thức phân loại DNVVN nhưng nhìn chung nó có các nội dung: Nguyễn Hoành Dũng - Quản trị kinh doanh 2011A 12 Đề tài: Tăng cường hiệu lực của công tác QLNN đối với các DNVVN trên địa bàn quận HBT - Là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân.
- Vì mục đích lợi nhuận. - Có quy mô trong những giới hạn nhất định theo các tiêu thức: vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng, những tiêu thức phân loại DNVVN được dùng làm căn cứ thiết lập những chính sách phát triển, hỗ trợ DNVVN của các Chính phủ. DNVVN là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân và kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức về vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia. DNVVN là những doanh nghiệp dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, trong đó bao gồm các hình thức sở hữu cá nhân, sở hữu tập thể, sở hữu gia đình, sở hữu hỗn hợp.
Ở Việt Nam, DNVVN được xác định là các cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng và số lao động từ 10 đến 50 (đối với doanh nghiệp nhỏ) và từ trên 10 tỷ đến dưới 50 tỷ đồng và số lao động từ 50 đến 100 người. Về cơ bản, DNVVN có nhiều ưu thế so với các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh khác, đó là: - Dễ dàng thành lập doanh nghiệp vì đòi hỏi ít vốn, diện tích mặt bằng không nhiều, các điều kiện sản xuất đơn giản, có thể tận dụng được các tư liệu sản xuất thô sơ, có sẵn. - Nhạy cảm với những thay đổi của thị trường. - Dễ dàng thay đổi mặt hàng, thay đổi thiết bị kỹ thuật và công nghệ.
- Quản lý đơn giản, gọn nhẹ. Bên cạnh những ưu thế, DNVVN thường gặp khó khăn nhiều mặt, trong đó tập trung vào các mặt sau: Thứ nhất, thiếu vốn: DNVVN gặp nhiều khó khăn về vốn để sản xuất và mở rộng sản xuất tuy mức độ không giống nhau. Thị trường cung ứng vốn cho DNVVN chủ yếu là thị trường tài chính không chính thức, các doanh nghiệp thường phải vay Nguyễn Hoành Dũng - Quản trị kinh doanh 2011A 13 Đề tài: Tăng cường hiệu lực của công tác QLNN đối với các DNVVN trên địa bàn quận HBT với lãi suất cao, vay vốn của thân nhân, bạn bè, ít được tiếp cận đến vốn tín dụng chính thức của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Tình trạng thiếu vốn của DNVVN có nhiều nguyên nhân, trong đó chú ý là: - Hệ thống tín dụng ngân hàng chưa tiếp cận với cầu của loại hình doanh nghiệp này vì nguồn vốn bị phân tán, chi phí vay lớn, khó đòi nợ, độ rủi ro cao.
- Nhiều DNVVN không có khả năng đáp ứng đòi hỏi của ngân hàng về thủ tục lập dự án, thủ tục thế chấp và điều kiện lãi suất. - Một số chủ DNVVN không muốn vay vốn ngân hàng vì như vậy khó trốn nghĩa vụ nộp thuế nên thường vay của tư nhân. - Trình độ kinh doanh yếu, rủi do lớn nên khó tích tụ vốn và khó trả nợ ngân hàng. Thứ hai, trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ yếu.
Trình độ trang thiết bị máy móc và công nghệ của DNVVN nói chung là yếu kém, lạc hậu. Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị thấp và nhiều DNVVN sử dụng thiết bị thải loại của các doanh nghiệp nhà nước, thiết bị chế tạo trong nước hoặc tự chế tạo với trình độ thiết kế và gia công thấp. Đáng chú ý là các trang thiết bị và công ngh ệ của các DNVVN thiếu trang bị xử lý môi trường như tiếng ồn, bụi, chất thải… nên thường gây ô nhiễm môi trường xung quanh, có hại tới sức khoẻ của người lao động và người dân trong vùng. Thứ ba là, trình độ tay nghề của người lao động và đội ngũ cán bộ quản lý thấp.
Lao động trong các DNVVN chủ yếu là lao động phổ thông, ít được đào tạo, thiếu kỹ năng, trình độ văn hoá thấp. Ở nước ta, theo số liệu điều tra chỉ có khoảng 30% lao động trong khu vực có trình độ đại học. Phần lớn chủ doanh nghiệp chưa được đào tạo, khoảng 48% chủ doanh nghiệp không có bằng cấp chuyên môn, chỉ có 31% số chủ doanh nghiệp có trình độ từ cao đẳng trở lên. Khó khăn lớn nhất đối với đội ngũ doanh nhân của DNVVN là trình độ và kỹ năng quản trị kinh doanh yếu, thiếu cơ bản và lúng túng trước biến động thị trường.
Nguyễn Hoành Dũng - Quản trị kinh doanh 2011A 14 Đề tài: Tăng cường hiệu lực của công tác QLNN đối với các DNVVN trên địa bàn quận HBT Thứ tư là, thị trường hạn hẹp và khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá thấp. Do nước ta có 80% dân số sống ở nông thôn, có nhu cầu khiêm tốn về chất lượng hàng hóa là điều kiện thuận lợi về thị trường cho DNVVN. Tuy nhiên, thị trường này bị thu hẹp do sức mua của nông dân là quá thấp. Do trang thiết bị thấp, công nghệ lạc hậu n ên các sản phẩm, hàng hoá chưa có chất lượng cao, mẫu mã không đa dạng, chưa cạnh tranh được mạnh trên khu vực, do vậy chưa thể xuất khẩu được nhiều.
Tính tất yếu khách quan của sự hình thành và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế. Theo quan điểm mác-xít, ch ế độ sở hữu tư nhân ra đời là kết quả phát triển lâu dài của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật chung của phát triển xã hội loài người. Theo đó, sự phát triển của lực lượng sản xuất được đánh dấu bằng trình độ của lực lượng sản xuất - thể hiện sự chinh phục tự nhiên của con người và tính chất của lực lượng sản xuất phát triển từ tính chất cá nhân lên tính chất xã hội hoá.
Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó. Sự tồn tại trên thực tế của các kiểu tổ chức sản xuất, loại hình Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau (xét về mặt quan hệ sản xuất) thích ứng với trình độ, năng lực và quy mô sản xuất khác nhau (xét về mặt lực lượng sản xuất) ở mỗi ngành, khu vực, Doanh nghiệp trong nền kinh tế, tồn tại trong sự đa dạng về quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối sản phẩm.