CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ DÀNH CHO KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử dành cho khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng điện tử dành cho khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ Khái niệm về dịch vụ Hiện nay, chưa có một định nghĩa chung thống nhất về dịch vụ do sự đa dạng, phức tạp và tính vô hình của các loại hình dịch vụ. Mỗi quốc gia lại có cách tiếp cận khác nhau về dịch vụ.
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) không đưa ra một định nghĩa cụ thể, mà thay vào đó, phân loại dịch vụ thành 12 ngành chính với 155 phân ngành. Cụ thể, WTO phân loại các dịch vụ theo 12 ngành như sau: dịch vụ kinh doanh, dịch vụ liên lạc, dịch vụ xây dựng và thi công, dịch vụ phân phối, dịch vụ giáo dục, dịch vụ môi trường, dịch vụ tài chính, dịch vụ liên quan đến sức khỏe và xã hội, dịch vụ du lịch và lữ hành, dịch vụ giải trí, văn hóa và thể thao, dịch vụ vận tải, các dịch vụ khác. Theo phân loại của WTO, dịch vụ tài chính thuộc phân ngành thứ bảy – dịch vụ tài chính, trong số 12 phân ngành dịch vụ. Theo WTO, dịch vụ tài chính bao gồm bất kỳ hoạt động nào có tính chất tài chính do một nhà cung cấp dịch vụ tài chính thuộc thành viên thực hiện.
Điều này bao gồm các dịch vụ bảo hiểm, ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác, ngoại trừ bảo hiểm. Như vậy, dịch vụ ngân hàng chỉ là một phần nhỏ trong dịch vụ tài chính. Trong Bách khoa toàn thư Việt Nam, dịch vụ được định nghĩa là các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và đời sống thường ngày. Theo Philip Kotler và cộng sự (2001), dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó.
Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với san phẩm vật chất. Còn theo Zeithaml và Bitner (2000) dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đài và các hoạt động trước, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác với nhau. Mục tiêu của việc tương tác này là nhằm 5 thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách khách hàng mong đợi, cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng (Bùi Nguyên Hùng, 2004).
Dịch vụ ngân hàng Cho đến nay, có khá nhiều quan điểm khác nhau về dịch vụ ngân hàng. Theo cuốn “Nghiệp vụ Ngân hàng hiện đại” của tác giả David Cox, hầu hết các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng thương mại đều gọi là dịch vụ ngân hàng. Cụ thể hơn, dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản,v. của họ, nhờ đó ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí.
Ở nước ta, lĩnh vực dịch vụ ngân hàng được Luật Tổ chức tín dụng quy định nhưng không có định nghĩa giải thích. Theo Luật Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 không nhắc đến dịch vụ ngân hàng, mà chỉ nhắc đến các hoạt động của Ngân hàng thương mại đó là: 1. Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác; 2. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài; 3.
Cấp tín dụng dưới các hình thức; 4. Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng; 5. Cung ứng các phương tiện thanh toán; 6. Cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Dịch vụ ngân hàng là loại hình dịch vụ xuất hiện sớm nhất trong các loại hình dịch vụ tài chính. Theo cách định nghĩa của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đưa ra trong Phụ lục về dịch vụ tài chính của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) thì: Một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm). Điều đó có nghĩa dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành dịch vụ tài chính và trong bảng phân ngành dịch vụ của WTO nó được chia thành 12 phân ngành cụ thể sau: 1.
Nhận tiền gửi và các khoản tiền gửi từ công chúng; 2. Cho vay dưới mọi hình thức bao gồm: cho vay tiêu dùng, thế chấp, bao thanh toán và các khoản tài trợ cho các giao dịch thương mại khác; 3. Cho thuê tài chính; 4. Tất cả các khoản thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ thanh toán, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng; 5.
Bảo lãnh và cam kết thanh toán; 6. Tự doanh hoặc kinh doanh trên tài khoản của khách hàng, kể cả trên thị trường tập trung, thị trường OTC hoặc các thị trường khác; 7. Phát hành các loại chứng khoán, bao gồm cả việc bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành (cả phát hành công khai và không công khai) và cung ứng các dịch vụ 6 liên quan đến hoạt động phát hành; 8. Môi giới tiền tệ; 9.
Quản lý tài sản gồm quản lý tiền mặt, quản lý danh mục, tất cả các hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, dịch vụ ủy thác, lưu ký và tín thác; 10. Dịch vụ thanh toán và thanh toán bù trừ đối với các tài sản tài chính, bao gồm chứng khoán, các sản phẩm phái sinh và các công cụ có thể chuyển nhượng khác; 11. Cung cấp và trao đổi các thông tin tài chính, xử lý dữ liệu tài chính và phần mềm có liên quan của các nhà cung ứng dịch vụ tài chính khác; 12. Dịch vụ tư vấn, môi giới và các dịch vụ tài chính hỗ trợ khác liên quan đến tất cả các hoạt động nói trên, bao gồm cả việc tham chiếu và phân tích tín dụng, nghiên cứu, tư vấn đầu tư và đầu tư theo danh mục, tư vấn đối với các hoạt động mua lại và tái cơ cấu doanh nghiệp cũng như xây dựng chiến lược.
Ngoài ra, dịch vụ ngân hàng cần được hiểu theo hai phạm vi rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng, dịch vụ ngân hàng là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối, v. của hệ thống ngân hàng với doanh nghiệp và công chúng. Quan niệm theo nghĩa rộng này được sử dụng để xem xét lĩnh vực dịch vụ ngân hàng trong cơ cấu kinh tế của một quốc gia.
Theo nghĩa hẹp, dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động ngoài chức năng truyền thống (như huy động vốn và cho vay). Quan niệm này chỉ nên dùng để nghiên cứu sự phát triển các dịch vụ ngân hàng mới và cơ cấu các dịch vụ ngân hàng mới trong hoạt động của ngân hàng. Tóm lại, theo tác giả, có thể hiểu khái quát về dịch vụ ngân hàng như sau: “dịch vụ ngân hàng bao gồm tất cả các dịch vụ được ngân hàng cung cấp cho khách hàng". Dịch vụ ngân hàng điện tử Trước khi tiếp cận với khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử, chúng ta cùng tìm hiểu về thương mại điện tử vì ngân hàng điện tử chính là ứng dụng của thương mại điện tử trong lĩnh vực ngân hàng.
Thương mại điện tử (TMĐT) là một khái niệm dùng để chỉ quá trình mua và bán một sản phẩm (hữu hình) hoặc dịch vụ (vô hình) thông qua một mạng điện tử (electronic network), phương tiện trung gian (medium) phổ biến nhất của TMĐT là Internet. Qua môi trường mạng, người ta có thể thiết lập giao dịch, thanh toán, mua bán bất cứ sản phẩm gì từ hàng hoá cho đến dịch vụ, kể cả dịch vụ ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng điện tử (e-banking) được hiểu là các nghiệp vụ, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng được phân phối trên các kênh điện tử như Internet, điện thoại, mạng không dây, … Hiểu theo nghĩa trực quan, đó là loại dịch vụ ngân hàng được khách hàng thực hiện nhưng không phải đến quầy giao dịch gặp nhân viên ngân hàng. Hiểu theo nghĩa rộng hơn, đây là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống 7 với công nghệ thông tin (CNTT) và điện tử viễn thông.
E-banking là một dạng của thương mại điện tử ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng điện tử dành cho Khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ Dịch vụ ngân hàng điện tử cho doanh nghiệp vừa và nhỏ là dịch vụ mà ngân hàng cung cấp riêng cho đối tượng khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhìn chung, ngoài những tiện ích đặc biệt, dịch vụ này cũng có một số tính năng cơ bản tương tự E-banking dành cho khách hàng cá nhân. NHĐT hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các hoạt động giao dịch tài chính như chi trả lương nhân viên, thanh toán các khoản vay, quản lý tài chính,.
thông qua các thiết bị có kết nối internet. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể thực hiện giao dịch mọi lúc, mọi nơi, bất kể là ngoài giờ hành chính hay ngày nghỉ, lễ, Tết. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng điện tử dành cho khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ Các dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng cũng giống như các loại hình dịch vụ khác, có những đặc điểm cốt lõi sau: Một là, tính vô hình Tính vô hình là đặc điểm cơ bản giúp phân biệt các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng với các sản phẩm và dịch vụ trong ngành sản xuất. Giống như các dịch vụ khác, các dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng không có hình thức vật lý hữu hình, nghĩa là khách hàng trải nghiệm và tiếp nhận dịch vụ thông qua giao tiếp và trao đổi thông tin.
Đặc biệt, CLDV chỉ có thể được đánh giá sau khi khách hàng đã sử dụng. Khác với hàng hóa vật chất, dịch vụ ngân hàng không tồn tại ở trạng thái chưa hoàn thiện và không thể lưu trữ để sử dụng trong tương lai.