Chương 1 – Tổng quan nghiên cứu đề tài: Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và kết cấu của luận văn. Chương 2 - Cơ sở lý thuyết: Trình bày khái niệm về doanh nghiệp, phân loại doanh nghiệp theo số lượng lao động; khái niệm về dòng chảy việc làm và các phương pháp đo lường dòng chảy việc làm; lý thuyết về cầu lao động trong doanh nghiệp; các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm ròng trong các doanh nghiệp; phương pháp tiếp cận hình thành mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm ròng trong doanh nghiệp; các nghiên cứu trước liên quan. Chương 3 – Thiết kế nghiên cứu: Trình bày quy trình nghiên cứu; thiết kế nghiên cứu; các nội dung phân tích dòng chảy việc làm và mô hình nghiên cứu thực nghiệm các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm ròng trong các doanh nghiệp địa bàn tỉnh Gia Lai; mô tả và phân tích thống kê nguồn dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu. Chương 4 - Phân tích kết quả nghiên cứu: Trình bày kết quả và mô tả thống kê dòng chảy việc làm; trình bày và phân tích kết quả mô hình kinh tế lượng xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm ròng trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Chương 5 - Kết luận và khuyến nghị các chính sách phát triển doanh nghiệp nhằm chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với yêu cầu của các vị trí việc làm theo cơ cấu kinh tế đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong thời gian đến; đồng thời nêu một số hạn chế của đề tài. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này nêu các lý thuyết nhằm giới thiệu khung lý thuyết cho việc đo lường dòng chảy việc làm và các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm ròng trong doanh nghiệp. Nội dung bao gồm: Trình bày khái niệm về doanh nghiệp, phân loại doanh nghiệp theo số lượng lao động; về việc làm, dòng chảy việc làm và phương pháp đo lường dòng chảy việc làm, các ưu, khuyết điểm của phương pháp đo lường dòng chảy việc làm; lý thuyết về cầu lao động trong doanh nghiệp; các yếu tố tác động đến tạo việc làm ròng trong doanh nghiệp; phương pháp tiếp cận để xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm ròng trong doanh nghiệp; các nghiên cứu trước liên quan đến đề tài nghiên cứu. Đề xuất khung lý thuyết trong phân tích dòng chảy việc làm và mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm ròng trong doanh nghiệp.
Khái niệm về doanh nghiệp và phân loại quy mô doanh nghiệp Khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2009 định nghĩa “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Đề tài thực hiện phân tích dòng chảy việc làm và mô hình hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm ròng trong doanh nghiệp dựa theo quy mô tính theo số lượng lao động có trong doanh nghiệp, do đó trong đề tài chỉ tập trung nêu các tiêu chuẩn phân loại doanh nghiệp theo số lượng lao động, các tiêu chuẩn phân loại khác không đưa vào đề tài. Theo Phan Hồng Dẫn (2012), hiện nay trên thế giới có nhiều tiêu chuẩn phân loại doanh nghiệp dựa vào quy mô tính theo số lượng lao động, như: Ngân hàng thế 5 giới (WB) và công ty tài chính quốc tế (IFC) thì phân loại các doanh nghiệp theo tiêu chí doanh nghiệp siêu nhỏ có 10 lao động trở xuống, doanh nghiệp nhỏ có không quá 50 lao động, doanh nghiệp vừa có không quá 300 lao động; ngoài ra, một số nước trên thế giới xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có dưới 100 lao động (Indonesia, Singapor, Thái Lan, Mianma.), đối với Hàn Quốc doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc lĩnh vực công nghiệp- xây dựng có dưới 300 lao động và thuộc lĩnh vực thương mại- dịch vụ có dưới 20 lao động. Theo OECD (trích bởi Nguyễn Minh Hà, 2010), doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có dưới 100 lao động, doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có số lao động từ 100 - 499 và doanh nghiệp có số lao động từ 500 trở lên là doanh nghiệp lớn.
Ở Việt Nam, quy mô doanh nghiệp được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; theo đó, “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 2. Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Số lao động Tổng Số lao động Tổng nguồn Số lao động Khu vực nguồn vốn vốn I. Nông, 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 lâm nghiệp xuống trở xuống người đến đồng đến người đến và thủy sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II. Công 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và xuống trở xuống người đến đồng đến người đến xây dựng 200 người 100 tỷ đồng 300 người III.
Thương 10 người trở 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 mại và dịch xuống trở xuống người đến đồng đến 50 người đến vụ 50 người tỷ đồng 100 người Nguồn: Chính phủ Việt Nam 6 2. Việc làm và dòng chảy việc làm 2. Khoản 1 Điều 9 Bộ Luật Lao động số 10/2012/QH13 của nước Việt Nam định nghĩa “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Tổng cục Thống kê (2011) xác định chi tiết: “Việc làm là mọi hoạt động lao động từ 01 giờ trở lên tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm.
Việc làm được trả công: bằng tiền, hoặc dưới các hình thức khác mà người nhận tiền lương, tiền công. phải hoàn thành trong một thời gian nhất định với yêu cầu cụ thể về số lượng và chất lượng công việc do người hoặc nơi trả lương, trả công quy định, không phân biệt người đó hoặc nơi đó là cá thể hay cơ quan, doanh nghiệp. Hợp đồng lao động (bằng giấy hoặc thỏa thuận miệng) cho phép họ nhận được tiền lương, tiền công cơ bản mà khoản thu nhập này không phụ thuộc trực tiếp vào kết quả hoạt động của cơ quan/đơn vị nơi họ làm việc. Việc tự làm: là các công việc mà thu nhập phụ thuộc trực tiếp vào lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ.
Việc tự làm gồm các công việc tự làm của bản thân để tạo thu nhập hoặc làm cho kinh tế hộ của gia đình mình không hưởng tiền lương, tiền công”. Dòng chảy việc làm (job flows) Khái niệm về dòng chảy việc làm của Acquisti và Lehmann (2000): thay đổi việc làm ròng trong một nền kinh tế là kết quả của tạo việc làm từ việc mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc gia nhập mới của doanh nghiệp và tiêu hủy việc làm do giảm hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc rút lui khỏi thị trường của doanh nghiệp. Dòng chảy lao động trong các doanh nghiệp này gọi là “tổng dòng chảy việc làm”. Khái niệm về dòng chảy việc làm được Davis và Haltiwanger phát triển và 7 hoàn thiện qua nhiều nghiên cứu khác nhau(2); đến nay, khái niệm này đã được nhiều tác giả ở nhiều nước trên thế giới áp dụng, bổ sung và sử dụng thống nhất trong các nghiên cứu về dòng chảy việc làm như: Lawless (2012), Michael Anyadike-Danes, Borner và Hart (2011), Nguyễn Minh Hà (2010), Hijzen, Upward và Wright (2009), Masso, Eamets và Phillips (2005).
Theo Davis và Haltiwanger (1999), khái niệm về việc làm là một khái niệm quen thuộc, nhưng để đo lường và giải thích một cách có ý nghĩa các số liệu thống kê về tạo việc làm và tiêu hủy việc làm đòi hỏi phải được định nghĩa và giả định một cách cẩn thận. Với quan niệm “việc làm có nghĩa là một vị trí công việc được lấp đầy bởi một nhân công” thì các dòng chảy việc làm được đo lường gồm có: Tổng tạo việc làm tại thời điểm t là tổng số lượng lao động tăng thêm của tất cả các đơn vị sản xuất, kinh doanh mở rộng hoặc gia nhập mới trong khoảng thời gian (t-1) và t; được tính bởi công thức: JCjt = Trong đó: JCjt là tổng số việc làm tại thời điểm t của các doanh nghiệp thuộc nhóm j (nhóm j là đặc tính sử dụng lao động của doanh nghiệp, có thể là toàn bộ nền kinh tế hoặc khu vực kinh tế và ngành kinh tế hoặc vùng địa lý, độ tuổi doanh nghiệp.); Nit và Nit-1 là số lượng lao động của doanh nghiệp i tại thời điểm t và (t-1); j+ biểu hiện cho doanh nghiệp có số lượng lao động ở thời điểm t nhiều hơn tại thời điểm (t-1). Tổng việc làm bị tiêu hủy tại thời điểm t là giá trị tuyệt đối của tổng số lượng lao động bị giảm xuống của tất cả các đơn vị sản xuất, kinh doanh do giảm quy mô hoặc rút khỏi thị trường trong khoảng thời gian (t-1) và t; được tính bởi công thức: JDjt = (2) Một số nghiên cứu tiêu biểu của Davis và Haltiwanger về dòng chảy việc làm qua các năm gồm có: Tổng tạo việc làm, tổng tiêu hủy việc làm và tái phân bổ lao động (1989), Tổng tạo việc làm và tiêu hủy việc làm: bằng chứng kinh tế vi mô và tác động kinh tế vĩ mô (1990), Tổng tạo việc làm, tổng tiêu hủy việc làm và tái phân bổ lao động (1991), Tổng dòng chảy việc làm (1999). 8 Trong đó: JDjt là tổng số việc làm tại thời điểm t của các doanh nghiệp - thuộc nhóm j; j biểu hiện cho doanh nghiệp có số lượng lao động ở thời điểm t ít hơn tại thời điểm (t-1).
Tổng tái phân bổ việc làm tại thời điểm t là tổng số của số lượng lao động tăng thêm và giảm đi của tất cả các doanh nghiệp trong khoảng thời gian (t-1) và t.