Chương 1: Tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng tới huy động vốn tiền gửi tại Tổ chức tín dụng; Chương 2: Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng tới huy động vốn tiền gửi tại Quỹ tín dụng nhân dân Cẩm Hoàng; Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động vốn tiền gửi tại Quỹ tín dụng nhân dân Cẩm Hoàng. 10 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1. Tổng quan về huy động vốn tiền gửi tại các tổ chức tín dụng 1. Khái niệm về huy động vốn tiền gửi tại các tổ chức tín dụng Theo Trầm Thị Xuân Hương (2013): “Vốn huy động là vốn thuộc sở hữu của các chủ thể trong nền kinh tế, được TCTD tạm thời quản lý và sử dụng để kinh doanh trong một thời gian xác định, sau đó sẽ hoàn trả lại cho chủ sở hữu.
Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của các TCTD, là nguồn vốn chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của TCTD. Tuy nhiên, khi đến hạn thì các TCTD phải hoàn trả cho chủ sở hữu cả vốn gốc lẫn lãi nên vốn huy động là thành phần vốn có tính chất biến động”. Theo Nguyễn Văn Tiến (2013): “Vốn huy động là nguồn vốn quan trọng nhất trong số các nguồn vốn thu hút từ bên ngoài của TCTD. Các hình thức huy động vốn của TCTD ngày càng phong phú, đa dạng và hiện đại”.
Trong luận văn này, huy động vốn tiền gửi tại các TCTD có thể được hiểu như sau: “Huy động vốn tiền gửi là việc TCTD nhận tiền của các khách hàng cá nhân, tổ chức dưới hình thức tiền gửi (không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, giấy tờ có giá) theo nguyên tắc có hoàn trả đây đủ tiền gốc và lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”. Vai trò của huy động vốn tiền gửi tại các tổ chức tín dụng 1. Đối với nền kinh tế Hoạt động huy động vốn tiền gửi của TCTD đóng vai trò cần thiết cho sự phát triển kinh tế của quốc gia. Hoạt động huy động vốn nói chung và huy động vốn tiền gửi nói riêng của các TCTD, về bản chất là huy động nguồn vốn nhàn rỗi, dư thừa trong nền kinh tế, từ đó thông qua nghiệp vụ tín dụng, 11 cung ứng nguồn vốn dư thừa này cho các thành phần kinh tế có nhu cầu sử dụng vốn.
Hoạt động huy động vốn tiền gửi của TCTD cũng là một trong những kênh mà Chính phủ có thể can thiệp để điều hành kinh tế vĩ mô và thực hiện các chính sách tiền tệ. Điều này có ý nghĩa để Chính phủ có thể can thiệp và điều hành nền kinh tế theo đúng mục tiêu đề ra. Đối với các tổ chức tín dụng TCTD có thể thông qua hoạt động huy động vốn để có nguồn lực, tài trợ cho các hoạt động kinh doanh. Các hoạt động kinh doanh có thể là hoạt động tín dụng, thanh toán, NHĐT,… cũng như trang trải các chi phí hoạt động như lương nhân viên, mặt bằng, cơ sở vật chất,… Nguồn vốn huy động nói chung và huy động vốn tiền gửi nói riêng có ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh của TCTD.
Cụ thể, nếu TCTD huy động được nguồn vốn tiền gửi dồi dào với chi phí thấp thì sẽ tạo điều kiện cho TCTD có thể mở rộng được tín dụng đầu tư và thu được lợi nhuận cao. Ngược lại, nguồn vốn tiền gửi với quy mô hạn chế và chi phí cao thì TCTD có thể gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh của mình. Chi phí huy động vốn tiền gửi của TCTD liên quan chặt chẽ với lãi suất tiền gửi các loại, lãi suất tiền gửi tiết kiệm các loại và lãi suất các công cụ nợ do các TCTD phát hành. Hoạt động huy động vốn tiền gửi quyết định đến hiệu quả hoạt động tín dụng của TCTD.
Bởi nếu TCTC có thể huy động vốn phù hợp với mục tiêu đề ra, cân đối giữa các nguồn vốn huy động đa dàn về loại tiền, thời hạn, lãi suất huy động thì có thể nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn (tín dụng), tránh những rủi ro có thể xảy ra như sử dụng vốn huy động ngắn hạn để tài trợ tín dụng dài hạn. 12 Giúp TCTC có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, uy tín trên thị trường. Nếu TCTD có thể thu hút được nhiều khách hàng gửi tiền tại đơn vị, cũng như các dịch vụ khác, thì có thể thấy TCTD đã được khách hàng tin tưởng, gia tăng khả năng lựa chọn khách hàng để gửi tiền,… 1. Đối với khách hàng Khách hàng sẽ có một kênh đầu tư an toàn là gửi tiền tại các TCTD.
Theo đó, khi khách hàng gửi tiền vào các TCTD, khách hàng đã chọn một trong những hình thức đầu tư an toàn nhất, bởi các TCTD thường chịu sự quản lý rất gắt gao của Chính phủ, NHNN. Hoạt động huy động vốn tiền gửi của TCTD giúp các khách hàng có thể có một kênh đầu tư số vồn nhàn rỗi của mình, bên cạnh đó cũng giúp khách hàng có thể tiếp cận được các sản phẩm dịch vụ khác của TCTD. Chẳng hạn, khách hàng không những có thể gửi tiền cho các TCTD, mà còn có thể sử dụng các dịch vụ đi kèm như dịch vụ tín dụng, dịch vụ thanh toán, dịch vụ thẻ hay NHĐT. Đặc điểm của huy động vốn tiền gửi tại các tổ chức tín dụng Huy động vốn tiền gửi của tại TCTD có những đặc điểm cơ bản như sau: Các chủ thể tham gia trong hoạt động huy động vốn tiền gửi tại TCTD bao gồm: TCTD với vị thế là người huy động vốn và khách hàng (cá nhân, tổ chức) với vị thế là người cung cấp vốn huy động cho TCTD.
Trong đó, khách hàng là đối tượng cung cấp vốn huy động tiền gửi chủ yếu cho TCTD. Hình thức huy động vốn tiền gửi của các TCTD ngày càng đa dạng đáp ứng nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế. TCTD có thể huy động vốn từ khách hàng thông qua các kênh truyền thống. Bên cạnh đó, các TCTD có thể huy động vốn tiền gửi của khách hàng thông qua các kênh huy động hiện đại như Mobile Banking, Internet Banking, các máy ATM có chức năng gửi tiền,… 13 Nguồn vốn huy động tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của TCTD, đóng vai trò quan trọng nhưng cũng không kém phần rủi ro cho TCTD.
Bởi nếu không có sự quản lý tốt, có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản cho chính các TCTD. Khách hàng được bảo hiểm tiền gửi khi gửi tiền tại các TCTD. Khi tham gia gửi tiền, theo quy định của pháp luật, khách hàng sẽ được các TCTD mua bảo hiểm tiền gửi. Trong trường hợp có rủi ro, bảo hiểm tiền gửi sẽ trả một phần tiền cho khách hàng, với mức tối đa tùy theo từng quy định cụ thể.
Điều này góp phần hạn chế rủi ro của khách hàng khi gửi tiền tại các TCTD. Các hình thức huy động vốn tiền gửi tại các tổ chức tín dụng Các TCTD có thể huy động vốn tiền gửi của KHCN thông qua các hình thức như sau: Tiền gửi thanh toán Đây là khoản tiền mà khách hàng gửi vào các TCTD để phục vụ cho mục đích thanh toán là chủ yếu. Là khoản tiền gửi không kỳ hạn với lãi suất không kỳ hạn. Khách hàng gửi tiền vào TCTD ở tài khoản này không nhằm mục đích thu lãi, mà là sử dụng các tiện ích do các TCTD cung cấp như: có thể thanh toán, rút tiền linh hoạt, chuyển tiền, thanh toán các hóa đơn dịch vụ, trả phí phát hành thẻ nội địa hoặc thẻ quốc tế.
Lãi suất của tiền gửi thanh toán thấp hơn nhiều so với tiền gửi tiết kiệm, đổi lại chủ tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ tiện ích và linh hoạt hơn với mức phí phải trả thấp. Đây là ưu điểm của nguồn tiền gửi này. Nhược điểm của nguồn vốn này là tính ổn định kém, khách hàng gửi tiền vào với mục đích thanh toán hơn là hưởng lãi. Khi cần khách hàng có thể rút tiền, nộp tiền rất nhanh và tiện lợi.
Biến động của tiền gửi thanh toán phụ thuộc vào nhu cầu rút vốn của khách hàng (Nguyễn Văn Tiến, 2013). Tiền gửi có kỳ hạn Đây là sản phẩm tiền gửi có sự thỏa thuận giữa nhu cầu của khách hàng và TCTD về thời hạn rút tiền. Nguồn tiền gửi này mục đích chính để tích lũy và 14 hưởng lãi. Về bản chất, các tiền gửi có kỳ hạn không được sử dụng vào mục đích thanh toán như các khoản chi trả bằng vốn trên tài khoản thanh toán.
Nhìn chung, tiền gửi có kỳ hạn luôn có lãi suất cao. Khi rút trước hạn, khách hàng có thể chịu mức lãi suất không kỳ hạn hoặc khách hàng có thể không được phép rút trước hạn, tùy thuộc vào gói dịch vụ mà khách hàng đã đăng ký. Đây là nguồn huy động tương đối ổn định, TCTD có thể sử dụng vào mục đích cho vay trung và dài hạn. Nếu nguồn huy động tiền gửi có kỳ hạn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn tiền gửi sẽ tạo điều kiện thuận lợi và chủ động sử dụng vốn trong quá trình kinh doanh.
Chính vì vậy, các TCTD luôn tìm cách đa dạng hóa sản phẩm tiền gửi này bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn khác nhau với mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng (Nguyễn Văn Tiến, 2013). Tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân gửi vào tài khoản tiết kiệm, được xác định trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi suất theo quy định của TCTD và được bảo hiểm theo quy định về bảo hiểm tiền gửi. Vốn huy động từ các khoản tiết kiệm thường chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tiền gửi tại TCTD. Tiền gửi tiết kiệm bao gồm các loại sau: loại không kỳ hạn, loại có kỳ hạn ngắn và loại có kỳ hạn dài hạn.
Phát hành giấy tờ có giá Phát hành giấy tờ có giá là nghiệp vụ huy động vốn của TCTD dưới hình thức phát hành các chứng từ như: Chứng chỉ tiền gửi ( kỳ phiếu), trái phiếu,. Trong nghiệp vụ này, TCTD chủ động đứng ra thu gom vốn trong xã hội bằng việc phát hành các giấy tờ có giá nhằm bổ sung nguồn vốn kinh doanh. Thông thường, phát hành giấy tờ có giá là nghiệp vụ huy động vốn theo nhu cầu riêng của từng TCTD với hình thức và kỳ hạn rất đa dạng nhằm thoả 15 mãn tối đa nhu cầu khách hàng và huy động được vốn cho các TCTD (Nguyễn Văn Tiến, 2013). Tổng quan về Quỹ tín dụng nhân dân 1.