Chương 1: Lý luận về hiệu quả quản lý huy động vốn tại Ngân hàng thƣơng mại. Chương 2: Thực trạng hiệu quả quản lý huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc. ~3~ CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ VỐN HUY ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm, chức năng và vai trò của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Hiện nay, trên thế giới tồn tại nhiều khái niệm ngân hàng thƣơng mại khác nhau. Tại Mỹ, NHTM đƣợc hiểu là một tổ chức kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ công nghiệp tài chính; Tại Pháp, NHTM đƣợc định nghĩa là xí nghiệp hay cơ sở thƣờng xuyên nhận của công chúng dƣới hình thức ký thác hoặc các hình thức khác có số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.
Theo Luật TCTD Việt Nam năm 2010 thì “NHTM là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật TCTD năm 2010 nhằm mục tiêu lợi nhuận” [14, trang 2]; Các hoạt động của ngân hàng thƣơng mại theo Luật TCTD Việt Nam năm 2010 bao gồm: i. Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác; ii. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nƣớc và nƣớc ngoài; iii. Cấp tín dụng dƣới các hình thức: Cho vay; Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhƣợng và giấy tờ có giá khác; Bảo lãnh ngân hàng; Phát hành thẻ tín dụng; Bao thanh toán trong nƣớc; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng đƣợc phép thực hiện thanh toán quốc tế; Các hình thức cấp tín ~4~ dụng khác sau khi đƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc chấp thuận; iv.
Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng; v. Cung cấp các phƣơng tiện thanh toán; vi. Cung ứng các dịch vụ thanh toán: Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nƣớc bao gồm séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thƣ tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ; Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác sau khi đƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc chấp thuận. Nhƣ vậy, NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ trên nguyên lý nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, đầu tƣ và làm phƣơng tiện thanh toán.
Chức năng ngân hàng thương mại Chức năng trung gian tín dụng: Đây là chức năng quan trọng nhất của NHTM. NHTM đóng vai trò là “cầu nối” giữa ngƣời dƣ thừa vốn và ngƣời có nhu cầu sử dụng vốn. Thông qua việc huy động các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, NHTM sử dụng số tiền này để cho vay các chủ thế có nhu cầu vay vốn. Thông qua chức năng này, NHTM đã tạo thu nhập cho ngƣời có vốn dƣ thừa, đáp ứng đƣợc nhu cầu vốn cho ngƣời thiếu vốn để kinh doanh hoặc mở rộng quy mô kinh doanh của mình.
Việc NHTM làm “cầu nối” này sẽ giảm thời gian trong việc bên thừa vốn và bên thiếu vốn tìm thấy nhau cũng nhƣ giảm thiểu rủi ro cho ngƣời thừa vốn khi quyết định cho ngƣời thiếu vốn vay. Từ đó, NHTM thúc đẩy đƣợc tốc độ luân chuyển đồng vốn trong nền kinh tế. Thông qua chức năng này, NHTM tạo ra thu nhập cho mình bằng cách hƣởng chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động. Chức năng trung gian thanh toán: NHTM làm trung gian thanh toán khi thực hiện các dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của khách hàng nhƣ trích tiền từ tài khoản tiền gửi thanh toán để khách hàng thanh toán tiền hàng, dịch ~5~ vụ hoặc nhập tiền vào tài khoản của khách hàng khi đối tác thanh toán tiền cho khách hàng.
Để thực hiện đƣợc chức năng này, NHTM cần mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng để khách hàng theo dõi các khoản thu chi của mình và từ đó có thể thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Thông qua hình thức này khách hàng sẽ giảm thiểu đƣợc rủi ro và bất cập trong thanh toán tiền mặt: giảm thiểu chi phí thanh toán trực tiếp, giảm thiểu rủi ro chấp nhận tiền giả,… Nền kinh tế giảm thiểu đƣợc lƣợng tiền mặt trong lƣu thông từ đó nâng cao hiệu quả chính sách tiền tệ, giảm thiểu đƣợc chi phí in ấn,… và NHTM tạo đƣợc thu nhập thông qua phí dịch vụ. NHTM thông qua chức năng này cung cấp các phƣơng tiện thanh toán thuận lợi cho khách hàng nhƣ séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng,… Chức năng tạo tiền: Chức năng tạo tiền đƣợc thực thi trên cơ sở chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động đƣợc để cho vay, số tiền cho vay ra lại đƣợc khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dƣ trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn đƣợc coi là một bộ phận của tiền giao dịch, đƣợc họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ,… NHTM chỉ có khả năng tạo tiền khi thực hiện nghiệp vụ cho vay bằng chuyển khoản và có sự tham gia của cả hệ thống NHTM.
Mức độ tiền tăng lên phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ dƣ thừa và tỷ lệ tiền mặt so với tiền gửi. Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phƣơng tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Vai trò của ngân hàng thương mại Thứ nhất, vai trò của NHTM đối với nền kinh tế: NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, là động lực giúp kinh tế tăng trƣởng. Nhờ thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM cân đối đƣợc vốn trong nền kinh tế ~6~ giúp cho các thành phần kinh tế cùng nhau phát triển.
Các ngân hàng đứng ra huy động vốn tạm thời nhàn rỗi từ các doanh nghiệp, các cá nhân sau đó sẽ cung ứng lại cho nơi cần vốn để tiến hành tái sản xuất với trang thiết bị hiện đại hơn, tạo ra sản phẩm tốt hơn, có lợi nhuận cao hơn. Xã hội càng phát triển nhu cầu vốn cần cho nền kinh tế càng tãng, ngân hàng với chức nãng trung gian tài chính ðiều hoà, phân phối vốn giúp cho tất cả các thành phần kinh tế cùng nhau phát triển nhịp nhàng, cân ðối. NHTM là “cầu nối” nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế. Bằng việc thực hiện các nghiệp vụ: thanh toán quốc tế, tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay, ủy thác ðầu tý với nýớc ngoài,… các NHTM ðã góp phần tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thƣơng không ngừng mở rộng và phát triển.
Thứ hai, vai trò của NHTM đối với các chủ thể trong nền kinh tế: Vai trò lớn nhất của NHTM đối với các tổ chức kinh tế – xã hội chính là cung cấp vốn cho các doanh nghiệp thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh. Với số tiền huy động đƣợc, NHTM cấp tín dụng đối với các doanh nghiệp, đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn trong quá trình kinh doanh của họ. Ngoài ra, NHTM còn giúp các doanh nghiệp và các tổ chức khác thuận tiện hơn trong các giao dịch với đối tác trong và ngoài nƣớc bằng việc cung cấp các dịch vụ thanh toán và tài trợ xuất nhập khẩu,… Cũng giống nhƣ doanh nghiệp, NHTM đáp ứng nhu cầu về vốn của các cá nhân thông qua hoạt động cấp tín dụng. Tuy nhiên, vai trò lớn nhất của NHTM với các khách hàng này là việc giúp các khoản tiền nhàn rỗi của họ đƣợc sinh lời và an toàn.
NHTM huy động tiền gửi trong dân cƣ để kinh doanh và trả lãi cho số tiền gửi đó. Nhờ vậy, mà khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng có thể sinh lời và tránh đƣợc các rủi ro nhƣ mất cắp, hƣ hỏng,… Bên cạnh đó, các cá nhân còn có thể bảo đảm an toàn cho đồng tiền của mình và nhận đƣợc thêm các tiện ích bằng cách lựa chọn các dịch vụ: thanh toán qua ngân hàng, chuyển tiền,… Xã hội ngày càng phát ~7~ triển, cùng với sự phát triển của công nghệ, các tiện ích mà dịch vụ ngân hàng mang lại cho cá nhân cũng có xu hƣớng ngày một gia tăng. Thứ ba, vai trò của NHTM đối với NHNN: Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ thống, các NHTM đã góp phần mở rộng hay thu hẹp lƣợng tiền trong lƣu thông. Hơn nữa, bằng việc cấp các khoản tín dụng cho nền kinh tế, NHTM thực hiện việc dắt dẫn các luồng tiền, tập hợp, phân chia vốn của thị trƣờng góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia nhƣ: ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, tạo công ăn việc làm cao, ổn định lãi suất, ổn định thị trƣờng tài chính, thị trƣờng ngoại hối, ổn định và tăng trƣởng kinh tế.
Khi mà NHNN dùng các công cụ để thực thi chính sách tiền tệ nhƣ: Chính sách chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Ngân hàng trung ƣơng đối với Ngân hàng thƣơng mại thông qua lãi suất tín dụng hoặc bằng các nghiệp vụ thị trƣờng mở thì các ngân hàng càng thể hiện vai trò quan trọng trong việc thi hành chính sách tiền tệ quốc gia. Các NHTM có thể thay đổi lƣợng tiền trong lƣu thông bằng việc thay đổi lãi suất tín dụng, bảo lãnh hoặc bằng các nghiệp vụ trên thị trƣờng mở qua đó góp phần chống lạm phát và ổn định sức mua của đồng nội tệ, kiềm chế lạm phát – các mục tiêu mà NHNN hƣớng tới. Thứ tư, vai trò của NHTM đối với hệ thống ngân hàng: Thông qua khả năng tạo tiền của NHTM thì khi một ngân hàng phá sản sẽ gây phản ứng dây truyền có thể dẫn đến sự sụp đổ của cả hệ thống ngân hàng vì vậy sự tồn tại của một NHTM không chỉ ảnh hƣởng tới NHTM đó mà còn ảnh hƣởng tới cả hệ thống ngân hàng. Ngoài ra, sự gia tăng NHTM làm sự cạnh tranh trong ngành ngân hàng tăng lên, các NHTM chú trọng hơn trong việc đầu tƣ hoạt động kinh doanh, đa dạng hóa sản phẩm.