phần mở đầu và kết luận, khoá luận chia thành 3 chƣơng: Chƣơng I: Cơ sở lí luận về ngân hàng thƣơng mại và nguồn vốn của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng II: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh huyện Hàm Yên. Chƣơng III: Một số giải pháp về công tác huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh huyện Hàm Yên. 4 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1. Khái niệm về ngân hàng Ngân hàng thƣơng mại là loại hình ngân hàng ra đời sớm nhất xét về mặt lịch sử ở các nƣớc phƣơng Tây. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các chức năng, vai trò, đối tƣợng và phạm vi hoạt động kinh doanh của các NHTM ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp, do vậy mà ở các nƣớc có rất nhiều quan niệm khác nhau về NHTM. Tuy nhiên, các nhà kinh tế học và luật gia ở các nƣớc đều thừa nhận điểm chung là khái niệm NHTM đƣợc dùng để chỉ tổ chức làm chức năng thu nhận tiền gửi của công chúng và đem số tiền đó cho ngƣời khác vay để kiếm lời.
Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997, sửa đổi năm 2003 đã định nghĩa về NHTM nhƣ sau: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm NHTM, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tƣ, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Trong Nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 của chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thƣơng mại, khái niệm NHTM đã đƣợc đề cập trong điều 1 nhƣ sau: “NHTM là ngân hàng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nƣớc”.
Nhƣ vậy, Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 và nghị định 49 đã bao quát đƣợc đầy đủ nội hàm và bản chất của NHTM. Về tƣ cách và tính chất loại hình doanh nghiệp, cả Luật Các tổ chức tín 4 dụng 1997 và nghị định 49 đều coi NHTM là tổ chức hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng chứ không chỉ là tổ chức kinh doanh tiền tệ đơn thuần. Khái niệm NHTM theo qua điểm của pháp luật hay của các nhà kinh tế ở các quốc gia khác nhau không hoàn toàn giống nhau mặc dù có những điểm tƣơng đồng. Theo đạo luật Ngân hàng của Pháp (năm 1941) thì NHTM là một xí nghiệp hay bất kì một cơ sở nào thƣờng xuyên nhận tiền gửi từ công chúng dƣới hình thức kí thác hay hình thức nào khác các khoản tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín thác hay dịch vụ tài chính.
Tuy nhiên các định nghĩa trên xét về thực chất vẫn chƣa thực sự là khái niệm rộng, bao quát đƣợc toàn bộ hình thức, nội dung, tính chất, đối tƣợng, phạm vi hoạt động của NHTM. Nhà kinh tế học ngƣời Mỹ Peter Rose đã đƣa ra một định nghĩa tƣơng đối đầy đủ về NHTM. Theo ông, NHTM là một tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Cho dù các định nghĩa về NHTM ở mỗi quốc gia có khác nhau, nhƣng nhìn chung lại, chúng ta thấy rằng bản chất của NHTM là: Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán, thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác nhau vì mục tiêu lợi nhuận và sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế.
Vì vậy, hoạt động ngân hàng rất đa dạng và phong phú về mặt nghiệp vụ cũng nhƣ các sản phẩm dịch vụ mà họ cung cấp, đồng thời hoạt động ngân hàng có tính chất bao trùm mang tính chất quyết định đến toàn bộ nền kinh tế. Nếu tiếp cận theo loại hình mà nó cung cấp thì ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và thanh toán, thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Vai trò của ngân hàng thƣơng mại trong nền kinh tế thị trƣờng 1. NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế Khi nhắc tới vai trò của ngân hàng thƣơng mại thì không thể không nhắc tới vai trò cung ứng vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền 5 kinh tế.
Để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh điều đầu tiên các chủ doanh nghiệp phải quan tâm đó là vốn. Nếu không có vốn thì doanh nghiệp sẽ bị mất cơ hội đầu tƣ, mất đi lợi nhuận mà lẽ ra có thể thu đƣợc. Do nhƣợc điểm của thị trƣờng tài chính dẫn đến ảnh hƣởng tới tính liên tục của chu trình tài chính nhƣ sự không khớp nhịp giữa cung vốn và cầu vốn qua vấn đề thời gian và lƣợng vốn, rủi ro đạo đức, rủi ro mất khả năng thanh toán, NHTM với tƣ cách là một chủ thể kinh doanh trên lĩnh vực tài chính tiền tệ có thể khắc phục đƣợc những nhƣợc điểm trên. NHTM chính là ngƣời đứng ra tiến hành khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế hình thành nên quỹ cho vay và sử dụng chúng để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.
Là một kênh phân phối vốn có hiệu quả NHTM đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh cải tiến qui trình công nghệ, từ đó nâng cao năng suất lao động để có thể đứng vững trƣớc sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trƣờng. Với khả năng cung cấp vốn, NHTM đã trở thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường Để có thể tiếp cận với thị trƣờng đầu ra và tìm kiếm lợi nhuận các doanh nghiệp cần phải quan tâm tới thị trƣờng đầu vào của mình mà yếu tố đầu vào quan trọng nhất chính là vốn, đây luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh doanh vì nó đặt nền tảng đầu tiên cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp không thể chỉ trông chờ vào vốn tự có mà phải biết khai thác các nguồn vốn khác tài trợ cho hoạt động của mình.
Nguồn vốn tín dụng của NHTM sẽ giúp doanh nghiệp giải quyết đƣợc khó khăn đó. Nhƣ vậy, ngân hàng chính là cầu nối đƣa doanh nghiệp đến với thị trƣờng giúp doanh nghiệp tìm kiếm đƣợc đầu vào, bôi trơn hoạt động sản xuất kinh doanh làm cho nó phát huy hiệu quả một cách tốt nhất trên thị trƣờng, giúp doanh nghiệp và thị trƣờng gần nhau hơn cả về không gian và thời gian. NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế Nếu NHTW có nhiệm vụ xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ thông qua các công cụ nhƣ: thị trƣờng mở, dự trữ bắt buộc, lãi suất, thì các NHTM một mặt chịu sự tác động trực tiếp của các cộng cụ này mặt khác nó còn tham gia điều tiết gián 6 tiếp vĩ mô nền kinh tế thông qua mối quan hệ với các tổ chức kinh tế, cá nhân về các hoạt động tài chính tín dụng. Nói cách khác, thông qua hoạt động của NHTM với các chủ thể khác trong nền kinh tế, mọi thông tin có liên quan đến việc hoạch định chính sách tiền tệ sẽ đƣợc phản hồi lại NHTW, giúp NHTW có thể hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp trong từng thời kỳ để đảm bảo thúc đẩy nền kinh tế tăng trƣởng và phát triển ổn định.
NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế Trên thế giới, trong thời đại ngày nay, mỗi quốc gia độc lập thƣờng xuyên tiến hành những mối quan hệ đa dạng và phức tạp trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại giao, văn hoá, khoa học- kỹ thuật, trong đó quan hệ kinh tế thƣờng chiếm vị trí quan trọng, áp lực cạnh tranh buộc nền kinh tế của mỗi quốc gia khi mở cửa hội nhập phải có tiềm lực lớn mạnh và toàn diện về mọi mặt mà quan trọng nhất là tài chính. Nhƣng làm thế nào để có thể hoà nhập nền kinh tế của một quốc gia với phần còn lại của thế giới? Câu hỏi này sẽ đƣợc giải đáp thông qua vai trò của hệ thống NHTM với hàng loạt các nghiệp vụ không ngừng đƣợc hoàn thiện và phát triển: thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, uỷ thác đầu tƣ. Hệ thống NHTM trong nƣớc đã điều tiết tài chính trong nƣớc phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế, đƣa nền tài chính trong nƣớc bắt kịp với nền tài chính quốc tế. Các chức năng của NHTM 1.
Chức năng trung gian thanh toán Ngân hàng làm chức năng trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng nhƣ trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hoặc nhập tiền vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Việc nhận tiền gửi và theo dõi các khoản thu chi trên tài khoản tiền gửi của khách hàng là tiền đề để ngân hàng thực hiện vai trò là trung gian thanh toán. Mặt khác, việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt giữa các chủ thể trong nền kinh tế có nhiều hạn chế đó là rủi ro phải vận chuyển tiền, chi phí thanh toán lớn, đặc biệt là với khách hàng ở cách xa nhau đã tạo nên nhu cầu thanh toán qua ngân hàng. Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh tế.