CHƯƠNG 1 N G Â N H À N G T H Ư Ơ N G M Ạ I VÀ VẤN Đ Ể M Ở R Ộ N G C Ô N G TÁC HUY ĐỘ NG VỐN 1. NHTM VÀ CÁC NGHIỆP v ụ c ơ BẢN CỦA NHTM. Khái quát về NHTM. Hệ thống NHTM hình thành và phát triển trong một quá trình lâu dài với nhiều hình thái kinh tế xã hội, nó ra đời trên cơ sở nền sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển.
Ngày nay hoạt động của các NHTM có vai trò quan trọng đã trở thành một yếu tố không thể thiếu gắn liền với nền kinh tế của mọi quốc gia trên thế giới. Mỗi nước có một mô hình riêng về hệ thống trung gian tài chính nhưng phải nói các NHTM lớn nhất cả về phạm vi, đối tượng cũng như khối lượng hoạt động giao dịch và dịch vụ. Tuy khái niệm về NHTM còn có những điểm khác nhau ở mỗi nước nhưng nhìn chung đều thống nhất coi NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt trên thị trường chuyên kinh doanh tiền tệ mà phần lớn không phải bằng nguồn vốn tự có của mình chủ yếu bằng nguồn vốn vay mượn trong xã hội thông qua việc huy động tiền gửi, cho vay và làm trung gian cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Tại Việt Nam, theo pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính được ban hành ngày 30/6/1990, NHTM được định nghĩa như sau: NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Năm 1997, Luật các Tổ chức tín dụng ra đời, tại điều 20 đã xác định: "Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo qui định của luật này và các qui định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán" [6]. “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh có liên quan. Trong đó: "Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng 3 với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán” [6]. Đặc trưng cơ bản để người ta phân biệt NHTM với các trung gian tài chính khác là ở chỗ NHTM là ngân hàng kinh doanh tiền gửi, trong đó có tiền gửi không kỳ hạn, chính từ hoạt động đó đã tạo cơ hội cho NHTM có thể làm tăng bội số tiền gửi của khách hàng trong hệ thống ngân hàng của mình.
Trong điều hành chính sách vĩ mô của Nhà nước đối với hoạt động ngân hàng, các nước thường đưa ra những quy định về giới hạn các hoạt động cho phép mà NHTM phải đảm nhận nhằm bảo đảm an toàn của hệ thống nên có sự khác biệt nhất định. Tuy nhiên chức năng truyền thống là kênh dẫn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu thì ở mọi nơi đều như nhau.Vì vậy, mỗi NHTM phải tạo lập một khối lượng vốn đủ lớn để đáp ứng các nhu cầu của khách hàng. Vốn chi phối toàn bộ các hoạt động và quyết định đối với việc thực hiện các chức năng của NHTM. Các nghiệp vụ cơ bản của NHTM.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các NHTM ngày càng phát huy những chức năng của mình nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển. Mặc dù kinh doanh đa năng song hoạt động của các NHTM vẫn theo 3 nghiệp vụ chính, đó là: Nghiệp vụ tài sản nợ (huy động tạo nguồn vốn), nghiệp vụ tài sản có (cho vay đối với nền kinh tế) và nghiệp vụ trung gian. Nghiệp vụ tài sản nợ. Đây là nghiệp vụ khởi đầu rất quan trọng tạo điều kiện, làm tiền đề cho hoạt động của NHTM.
Nghiệp vụ tài sản nợ chính là nghiệp vụ nhằm phát triển nguồn vốn của ngân hàng ngày một dồi dào, ổn định và tăng trưởng, đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng. Nghiệp vụ tài sản nợ bao gồm: 9 <. Vốn tự có vả coi như tự có. Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được và thuộc sở hữu của ngân hàng.
Vốn này chiếm tỷ lệ nhỏ trong kết cấu tổng nguồn vốn của ngân hàng song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập 4 một ngân hàng. Đây là nguồn vốn quan trọng vì nó là cơ sở để mở rộng qui mô hoạt động quyết định đến năng lực và thế cạnh tranh của NHTM, là tài sản đảm bảo tạo uy tín của ngân hàng đối với khách hàng, theo đà phát triển của ngân hàng vốn này sẽ tăng dần về số tuyệt đối. Ngoài ra nó còn là một trong những căn cứ quyết định đến khả năng và khối lượng vốn huy động của ngân hàng cũng như việc duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp ngân hàng gặp thua lỗ. Vốn tự có và coi như tự có bao gồm: + Vốn điều lệ: là vốn mà NHTM phải có để đi vào hoạt động được ghi trong văn bản pháp qui.
Tùy theo hình thức sở hữu mà nguồn vốn này được hình thành từ các nguồn khác nhau: Đối với NHTM Nhà nước, nguồn vốn này do Nhà nước cấp. Đối với ngân hàng cổ phần, nguồn vốn tự có được hình thành do phát hành cổ phiếu. + Các quỹ dự trữ được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm bổ sung vào vốn tự có: Quỹ dự trữ để bổ sung vốn pháp định và quỹ dự trữ đặc biệt để dự phòng bù đắp rủi ro. Khoản trích lập này là quan trọng và cần thiết vì trong nền kinh tế thị trường hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro.
+ Vốn coi như tự có: Gồm phần lợi nhuận chưa chia, các quỹ khác chưa sử dụng có thể xem như là phần vốn coi như tự có của NHTM, vì đó là những khoản tiền mà ngân hàng phải sử dụng vào mục đích nhất định nhưng chưa sử dụng. Vốn tự có và coi như tự có của NHTM có một vị trí quan trọng, người ta ví nó như một cái đệm để chống đỡ sự giảm giá trị những tài sản có của ngân hàng mà có thể đẩy ngân hàng đến tình trạng thiếu khả năng chi trả và phá sản. Tại Việt Nam theo quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các TCTD (ban hành kèm theo Quyết định số 297/1999/QĐ-NHNN5 ngày 25/8/1999 của Thống đốc NHNN) thì TCTD (trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài) phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% giữa vốn tự có so với tài sản có, kể cả cam kết ngoại bảng được điều chỉnh theo mức độ rủi ro. Vốn tự có Tỷ lệ an toàn vốn =.
X 100% Tổng tài sản có rủi ro quy đổi 5 b. vốũ huỵ dộng. Vốn huy động của NHTM là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức tài chính, tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua hoạt động kinh doanh của mình. Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi khi đến kỳ hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn.
Vốn huy động thường xuyên biến động nên ngân hàng không được phép sử dụng hết số vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán. Vốn huy động là công cụ chính đối với hoạt động kinh doanh của NHTM, nó là thành phần thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Là nguồn vốn mà ngân hàng chủ động đi vay trên thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn cấp thời. Nguồn vốn đi vay thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong kêt cấu tổng nguồn vốn của ngân hàng nhưng nó là nguồn vốn cần thiết đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng một cách bình thường.
Vốn đi vay có tính ổn định nhưng lãi suất phải trả khá cao, đây là vấn đề bất lợi trong việc tối đa hóa lợi nhuận buộc các NHTM phải tính toán kỹ lưỡng trước khi quyết định vay. Vốn đi vay bao gồm: * Vay ngân hàng Trung ương: Là hình thức các NHTM trong trường hợp cần bổ sung nhu cầu vốn khả dụng và phải phù hợp với mục tiêu của NHNN trên cơ sở sự điều tiết của chính sách tiền tệ cũng như sự kiểm soát gắt gao của NHNN. Tuỳ theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn được chia thành các loại: + Vốn vay ngắn hạn bổ sung là hình thức mà các NHTM xin vay vốn bổ sung vốn ngắn hạn của mình. Các ngân hàng chỉ được vay khi còn hạn mức tín dụng hoặc trong hạn mức tín dụng mà ngân hàng đã thoả thuận.
+ Vốn vay để thanh toán là hình thức các NHTM vay nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời trong thanh toán. Do thời hạn vay ngắn, chi phí lai cao nên các 6 ngân hàng phải tăng cường huy động các nguồn vốn khác để trả nợ ngay khi đến hạn. + Vay chiết khấu là hình thức các NHTM vay NHNN trên cơ sở chứng từ có giá. Các chứng từ này phải đảm bảo tính hợp lệ, hợp pháp và an toàn.
Vay chiết khấu gồm hai hình thức: Vay tái chiết khấu và vay có đảm bảo. * Vay các tổ chức tín dụng khác: Là quá trình điều hòa nhu cầu vốn khả dụng giữa NHTM thừa dự trữ cho NHTM thiếu hụt dự trữ tại NHNN nhằm đảm bảo nguồn vốn lưu chuyển liên tục trong hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng đi vay phải chấp hành đầy đủ các quy chế về dự trữ bắt buộc, an toàn vốn và có tài khoản tiền gửi thanh toán hoạt động thường xuyên tại NHNN. Chi phí cho loại nguồn vốn này cao, ngân hàng chỉ sử dụng khi nhu cầu cần thiết đảm bảo an toàn cho hoạt động của mình.
Là toàn bộ giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được thông qua việc cung cấp các phương tiện thanh toán và cung cấp các dịch vụ uỷ thác đầu tư. Trong quá trình làm trung gian thanh toán, NHTM cũng tạo được một khoản vốn gọi là vốn trong thanh toán. Các khoản tiền tạm thời được trích khỏi tài khoản này nhập vào tài khoản khác chờ sử dụng nên cũng được coi là tiền nhàn rỗi.