Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN KINH PHÍ HỖ TRỢ GIẢM NGHÈO NHANH VÀ BỀN VỮNG THEO NQ 30A 1. Một số lý luận chung về đói nghèo, giảm nghèo nhanh và bền vững 1. Một số vấn đề chung về đói nghèo Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian.
Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập, theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm của quốc gia. Nghèo tuyệt đối: Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối. Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta." Chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối được Ngân hàng Thế giới đưa ra là thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương.
Theo báo cáo của Chương trình phát triển Liên hiệp Quốc 1997, trong những bước sau đó ranh giới nghèo tuyệt đối cho từng địa phương hay từng vùng được xác định từ 2 đô la cho châu Mỹ La tinh và Carribean, đến 4 đô la cho những nước Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp. Nghèo tương đối là nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân trong những quốc gia được gọi là giàu có, nó được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó. Nghèo tương đối có thể là khách quan cũng như là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong download by : skknchat@gmail.com 6 cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan.
Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất tương đối, việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn. Có nhiều số liệu thống kê khác nhau để xác định ranh giới cho nạn nghèo tương đối cho một xã hội, ví dụ như là tỷ lệ bao nhiêu phần trăm của thu nhập trung bình. Từ năm 2001 trong các nước thành viên của Liên minh châu Âu, những người được coi là nghèo khi có ít hơn 60% giá trị trung bình của thu nhập ròng tương đương. Vì thế những người đó vẫn còn là nghèo tương đối.
Vì một sự phân chia rõ ràng giữa nghèo và giàu trên thực tế không có nên khái niệm ranh giới nguy cơ nghèo cũng hay được dùng cho ranh giới nghèo tương đối. Ngoài ra còn có định nghĩa nghèo theo tình trạng sống. Định nghĩa nghèo theo tình trạng sống lưu ý đến những khía cạnh khác ngoài thu nhập, như cơ hội đào tạo, mức sống, quyền tự quyết định, ổn định về luật lệ, khả năng ảnh hưởng đến những quyết định chính trị và nhiều khía cạnh khác. Đói nghèo là một thực trạng xã hội tồn tại trong bất cứ một chế độ nào từ trước đến nay.
Các xã hội trước trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội chậm thì tỷ lệ đói nghèo cao và mang tính đồng đèu bình quân nhiều hơn. Đến giai đoạn xã hội phát triển cao và nhanh về mọi mặt thì tỷ lệ nghèo có giảm đi nhưng việc phân hoá giàu nghèo lại diễn ra sâu sắc hơn, khoảng cách giữa giàu và nghèo lại nới rộng ra hơn nhiều lần. Đói nghèo tồn tại tự nhiên trong quá trình tăng trưởng kinh tế và gắn liền với một bộ phận dân cư có điều kiện sống, sản xuất và thu nhập thua kém hơn so với một bộ phận dân cư khác. Xét trong bối cảnh và phạm vi toàn cầu có nhiều quốc gia và có điều kiện sống, phát triển, thu nhập và khả năng tạo việc làm khác nhau nhưng trong từng quốc gia đều có tình trạng giàu nghèo và những quốc gia càng phát triển, càng giàu có thì sự phân hoá giàu nghèo càng sâu sắc.
Khái niệm đói nghèo, mức quy định chuẩn đói nghèo chỉ mang tính tương đối qua từng thời kỳ khác nhau, từng quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau, thậm chí một số nước còn quy định chuẩn nghèo khác nhau cho từng vùng. Đói nghèo được so sánh theo không gian và thời gian về điều kiện sống và làm việc của một người download by : skknchat@gmail.com 7 hoặc nhóm người, của một cộng đồng người, một quốc gia, một xã hội trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội qua các thời kỳ. Ở Việt Nam, từ 1993 đến năm 2005 Chính phủ đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo để phù hợp với xu thế phát triển, riêng từ năm 2001 đến năm 2005 là 2 lần: Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27 tháng 9 năm 2001 phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói và giảm nghèo giai đoạn 2001-2005" quy định những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 80.000 đồng/người/tháng (960.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo, những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng (1.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo ở khu vực nông thôn đồng bằng, và từ 150.000 đồng/người/tháng (1.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo ở khu vực thành thị. Năm 2005 Thủ tưởng Chính phủ ban hành Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì ở khu vực nông thôn với quy định hộ nghèo ở nông thôn có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.000 đồng/người/năm) trở xuống và hộ thành thị là từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.000 đồng/người/năm) trở xuống.
Quy định chuẩn nghèo này vẫn giữ cho đến nay. Về nguyên nhân đói nghèo được xác độ ở nhiều mức độ khác nhau. Đói nghèo được coi là quốc nạn của mỗi Quốc gia và được các Chính phủ đặc biệt quan tâm tìm các giải pháp để xoá bỏ. Trước tiên là việc phải xác định chính xác nguyên nhân căn bệnh đói nghèo để có biện pháp “chữa trị” hữu hiệu.
Thông thường vùng nghèo và người nghèo nói chung là các đối tượng gặp nhiều khó khăn trong sản xuất, sinh hoạt và đời sống do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, cách trở với cộng đồng, ít được tiếp cận với phát triển chung của xã hội. Nghèo đói thường diễn ra và khó khắc phục ở những vùng thiên tai địch họa thường xuyên xẩy ra, chưa kịp khắc phục chu kỳ trước thì lại bị dồn dập tiếp thảm họa ở chu kỳ sau. Nghèo đói diễn ra ở những vùng thiên tai khắc nghiệt không có điều kiện để phát triển sản xuất, cây trồng không cho thu hoạch do nắng hạn, đất đai khô cằn hoặc sình lầy quanh năm, vật nuôi không phát triển được do không có thức ăn, do thiếu nguồn nước, chỗ chăn download by : skknchat@gmail.com 8 thả và thiếu mọi điều kiện để sinh sống và trưởng thành. Nghèo đói thường diễn ra ở những nơi quá xa xôi cách trở với cộng đồng phát triển, quá xa nơi đô hội để tiêu thụ hàng hóa, nông sản phẩm sản xuất ra được, trong khi đó đường sá giao thông đi lại khó khăn cách trở, các phương tiện vận tải không đáp ứng yêu cầu, mọi điều kiện giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội đều khó thực hiện.
Những nguyên nhân chính dẫn đến nghèo được liệt kê ra là chiến tranh, cơ cấu chính trị như chế độ độc tài, các quy định thương mại quốc tế không công bằng, cơ cấu kinh tế phân bố thu nhập không cân bằng, tham nhũng, nợ quá nhiều, nền kinh tế không có hiệu quả, thiếu những nguồn lực có thể trả tiền được, thất bại Chính phủ, tụt hậu về công nghệ, giáo dục, thiên tai, dịch bệnh, dân số phát triển quá nhanh và bất bình đẳng nam nữ. Bên cạnh nguyên nhân chính trị, nghèo đói cũng có một nguyên nhân lớn của hiện tượng dân di cư từ vùng núi về đồng bằng, từ nông thôn về thành thị, từ các nước thứ ba về các nước phát triển. Với việc khốn khó trong mọi điều kiện sản xuất và sinh hoạt tại nơi bản địa làm cho người dân sở tại không thiết tha với ruộng vườn và nơi sản xuất của mình, kèm theo các lời đồn đại về một cuộc sống khấm khá nơi đô thị và viễn cảnh một đời sống tươi đẹp thoát khỏi đói nghèo nơi viễn xứ đã thôi thúc họ ra đi và nhiều lúc tạo thành một làn sóng di dân lớn. Về tình trạng nghèo trên thế giới, theo số liệu của Ngân hàng thế giới thì những người có ít hơn 1 đô la Mỹ tính theo sức mua địa phương và vì thế được xem là rất nghèo ở năm 1981có 1,5 tỉ người tương ứng với 40% dân số thế giới, năm 1987 là 1,227 tỉ người tương ứng 30% và năm 1993 là 1,314 tỉ người tương đương với 29% dân số thế giới.
Trong năm 2001 trên toàn thế giới có 21% dân số thế giới tương ứng với 1,1 tỉ người có ít hơn 1 đô la Mỹ tính theo sức mua địa phương. Phần lớn những người này sống tại châu Á, thế nhưng thành phần những người nghèo trong dân cư tại châu Phi lại còn cao hơn nữa. Các thành viên của Liên Hiệp Quốc trong cuộc họp thượng đỉnh thiên niên kỷ năm 2000 đã nhất trí với mục tiêu cho đến năm 2015 giảm một nửa số những người có ít hơn 1 đô la Mỹ (nguồn: điểm 1 của những mục đích phát triển thiên niên kỷ). Trong khi nhờ vào tăng trưởng kinh tế tại nhiều vùng của châu Á, tỷ lệ người nghèo giảm xuống rõ rệt từ 58% xuống còn 16% download by : skknchat@gmail.com 9 tại Đông Á thì con số những người nghèo nhất lại tăng lên ở châu Phi (tăng gần gấp đôi từ 1981 đến 2001 ở Sahara).
Tại Đông Âu và Trung Á con số những người nghèo nhất đã tăng lên đến 6% dân số. Nếu đặt ranh giới nghèo là 2 đô la Mỹ/ngày thì có tổng cộng là 2,7 tỉ người nghèo, có nghĩa là gần một nửa dân số thế giới.