Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN CẤP NƯỚC NÔNG THÔN 1. Cơ sở lý luận về quản lý dự án cấp nước nông thôn 1. Dự án Dự án là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định (Theo khoản 7 điều 4- Luật Đấu thầu), hay nói cách khác dự án đầu tư là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới [3]. * Đặc điểm của dự án - Dự án có mục đích, kết quả xác định.
Điều này có thể hiện tất cả các dự án đều phải có kết quả được xác định rõ. Kết quả này có thể là một toà nhà, một con đường, một dây chuyền sản xuất…Mỗi dự án lại bao gồm một tập hợp nhiệm vụ cần thực hiện. Mỗi nhiệm vụ lại có kết quả riêng, độc lập. Tập hợp các kết quả cụ thể của các nhiệm vụ hình thành nên kết quả chung của dự án.
- Dự án có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn. Dự án là một sự sáng tạo, dự án không kéo dài mãi mãi. Khi dự án kết thúc, kết quả dự án được chuyển giao cho bộ phận quản lý vận hành, nhóm quản lý dự án giải tán. - Dự án có sự tham gia của nhiều bên như: Chủ đầu tư, nhà thầu, cơ quan cung cấp dịch vụ trong đầu tư, cơ quan quản lý Nhà nước.
Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng từ dự án, các nhà Tư vấn. Nhà thầu, các cơ quan quản lý Nhà nước. Tuỳ theo tính chất của dự án và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau. download by : skknchat@gmail.com 5 - Sản phẩm dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo.
Kết quả của dự án có tính khác biệt cao, sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất. - Môi trường hoạt động “va chạm” quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của tổ chức. Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau và với các hoạt động tổ chức sản xuất khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị…Trong quản lý, nhiều trường hợp, các thành viên Chi cục Thuỷ lợi quản lý dự án lại có “hai thủ trưởng” nên không biết phải thực hiện mệnh lệnh của cấp trên trực tiếp nào nếu hai lệnh lại mâu thuẫn nhau…do đó, môi trường quản lý dự án có nhiều quan hệ phức tạp nhưng năng động. - Dự án có tính bất định và độ rủi ro cao, do đặc điểm mang tính dài hạn của hoạt động đầu tư phát triển.
Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn để thục hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư thường có độ rủi ro cao. *Vai trò của dự án Dự án đầu tư có các vai trò sau: - Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: dự án đầu tư là cơ sở để thẩm định và ra quyết định đầu tư - Trên góc độ các định chế tài chính: dự án đầu tư là cơ sở để ra quyết định tài trợ vốn cho dự án - Trên góc độ Chủ đầu tư: dự án đầu tư là căn cứ để xin phép đầu tư và giấy phép hoạt động, xin phép nhập khẩu máy móc vật tư kỹ thuật, xin hưởng các khoản ưu đãi đầu tư, xin gia nhập các khu chế xuất, khu công nghiệp, xin vay vốn của các định chế tài chính trong và ngoài nước, là căn cứ để kêu gọi góp vốn hoặc phát hành các cổ phiếu, trái phiếu… download by : skknchat@gmail.com 6 Dự án đầu tư khi được xây dựng sẽ đem lại những hiệu quả kinh tế xã hội to lớn: - Kết quả trực tiếp: công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng tạo điều kiện giao thông thuận lợi, phát triển kinh tế, kéo theo hàng loạt những dự án đầu tư khác khiến bộ mặt kinh tế quanh khu vực có công trình thay đổi. - Kết quả gián tiếp: tạo công ăn việc làm, nhiều ngành nghề mới phát sinh trong khu vực có công trình xây dựng được tạo nên, tạo cảnh quan đô thị.
* Phân loại dự án đầu tư và quản lý Nhà nước đối với dự án đầu tư Theo Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009 của Chính phủ [1], quy định các dự án đầu tư xây dựng công trình (sau đây gọi chung là dự án) được phân loại như sau: - Theo quy mô và tính chất: dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư; các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B, C. - Theo nguồn vốn đầu tư: + Dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước; + Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; + Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước; + Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn. Các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định theo phân cấp, phù hợp với quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. download by : skknchat@gmail.
Quản lý dự án cấp nước nông thôn 1. Khái niệm quản lý dự án: Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép [10]. Quản lý dự án bao gồm ba giai đoạn chủ yếu. Đó là việc lập kế hoạch, điều phối thực hiện mà nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí và thực hiện giám sát các công việc dự án nhằm đạt được những mục tiêu xác định.
Lập kế hoạch. Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc, dự tính nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành động thống nhất, theo trình tự logic, có thể biểu diễn dưới dạng các sơ đồ hệ thống hoặc theo phương pháp lập kế hoạch truyền thống. Điều phối thực hiện dự án. Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian.
Giai đoạn này chi tiết hóa thời gian, lập lịch trình cho từng công việc và toàn bộ dự án (Khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc), trên cơ sở đó, bố trí tiền vốn, nhân lực và thiết bị phù hợp. Là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện. Cùng với hoạt động giám sát, công tác đánh giá dự án giữa kỳ và cuối kỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rút kinh nghiệm, kiến nghị các phía sau dự án. Mục đích của quản lý dự án: QLDA đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố như sự nỗ lực, tính tập thể, yêu cầu hợp tác…vì vậy nó có tác dụng rất lớn, dưới đây trình bày một số mục đích chủ yếu sau: download by : skknchat@gmail.com 8 - Liên kết tất cả các công việc, các hoạt động của dự án.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hệ thường xuyên, gắn bó giữa nhóm quản lý dự án với khách hàng và các nhà cung cấp đầu vào cho dự án. - Tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các thành viên tham gia dự án. - Tạo điều kiện phát hiện sớm những khó khăn vướng mắc nảy sinh và điều chỉnh kịp thời trước những thay đổi hoặc điều kiện không dự đoán được. Tạo điều kiện cho việc đàm phán trực tiếp giữa các bên liên quan để giải quyết những bất đồng - Tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao hơn Đối với những dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách Nhà nước vai trò của QLDA lại càng thể hiện một cách rõ rệt vì: - Dự án đầu tư là những dự án có tính chất phức tạp, quy mô tiền vốn lớn, máy móc, thiết bị, vật tư cần nhiều, thời gian thi công kéo dài.
- Dự án đầu tư có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình kinh tế xã hội nơi nó tọa lạc khi được hoàn thành. - Do sử dụng vốn của Nhà nước, nguồn vốn quản lý còn nhiều lỏng lẻo và tồn tại nhiều kẽ hở nên cần phải quản lý một cách chặt chẽ. Đặc điểm của quản lý dự án cấp nước nông thôn Quản lý dự án cấp nước nông thôn thường có một số đặc điểm sau: - Đầu tư vào các vùng, khu vực có trình độ dân trí thấp, do đó trong quá trình chuẩn bị đầu tư đòi hỏi phải triển khai phổ biến kỹ nội dung dự án, vận động người dân tham gia vào dự án. - Dự án đầu tư là dự án phúc lợi do đó hiệu quả về kinh tế thương thấp, chỉ mang tính an sinh xã hội là chủ yếu.
- Dự án thường đầu tư trải dài trên địa bàn một xã hoặc nhiều xã, hoặc ở những địa bàn vùng sâu vùng xa do đó quá trình triển khai thi công gặp download by : skknchat@gmail.com 9 nhiều khó khăn. Bên cạnh đó dự án thường liên quan đến các công trình công cộng khác do đó tiến độ triển khai thi công thường chậm. - Do ý thức nhân dân vùng dự án còn thấp do đó quá trình quản lý sau đầu tư thường gặp nhiều khó khăn, đôi khi công trình đầu tư mang tính hiệu quả thấp. - Để dự án có thể đi vào đời sống của nhân dân có hiệu quả, các dự án cấp nước Nông thôn đã vận động người dân tích cực tham gia vào dự án với vai trò nhà nước và nhân dân cùng làm (Nhà nước đầu tư 90%, dân đóng góp 10%) nâng cao nhận thức của nhân dân trong việc sử dụng nước sạch.
Nội dung quản lý dự án cấp nước nông thôn 1.