Đặt vấn đề từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là đáp ứng được các đòi hỏi của một xã hội đang chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đồng thời cũng đáp ứng được đòi hỏi của một quốc gia đổi mới muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Những nguyên tắc của pháp chế XHCN là những tư tưởng chủ đạo thể hiện bản chất và các đặc điểm của pháp chế trong xã hội ta. Các nguyên tắc cơ bản đó là: 1. Bảo đảm tính thống nhất của pháp chế Nội dung của nguyên tắc này là: pháp luật phải được nhận thức và thực hiện thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia và ở tất cả các ngành, không thể đem lợi ích của địa phương, lợi ích ngành đối lập với lợi ích chung của nhà nước.
Văn bản của cơ quan nhà nước ở địa phương phải phù hợp, không mâu thuẫn với các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành. Những biểu hiện cục bộ, bản vị địa phương, có hại cho sự thống nhất pháp chế, đi chệch lợi ích chung của cả nước cần phải được loại trừ. Không nên quan niệm rằng tính thống nhất của pháp chế loại bỏ việc cân nhắc những điều kiện của địa phương. Các cơ quan nhà nước ở địa phương có nghĩa vụ, một mặt, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật đã được quy định thống nhất cho cả nước, mặt khác, trong hoạt động của mình cần tính toán đầy đủ những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của địa phương.
Song, sự tính toán đó không phải để vi phạm pháp luật mà để tìm kiếm những hình thức, biện pháp và phương sách đặc thù của địa phương nhằm thực hiện pháp luật tốt hơn. Pháp luật luôn mang trong nó tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức nên pháp luật phải được nhận thức và thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ quốc gia. Điều đó cũng có nghĩa: Luật, Pháp lệnh không được mâu thuẫn với Hiến pháp, các văn bản dưới luật không được mâu thuẫn, chồng chéo với các văn bản luật, các văn bản pháp luật của địa phương, của các bộ, ngành không được đặt lợi ích cục bộ của địa phương và của ngành mình đối lập với lợi ích của quốc gia. Đặt vấn đề như vậy không có nghĩa là triệt tiêu hoàn toàn tính chủ động sáng tạo của các địa phương và các bộ ngành, bỏ qua tính đặc thù của từng địa phương và bộ ngành.
Trên cơ sở sự thống nhất, các địa phương và các bộ ngành có thể vừa tính toán tới những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của mình vừa thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật đã được qui định thống nhất trong phạm vi cả nước. Trong quan hệ với các văn bản luật và các văn bản qui phạm dưới luật, Hiến pháp là đạo luật mang tính tối cao, do Quốc hội ban hành và là đảm bảo cao nhất của pháp chế. Điều này được chính Hiến pháp qui định: "Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp".
Bản thân Hiến pháp cũng được xây dựng và ban hành theo một trình tự thủ tục riêng theo qui trình lập hiến với yêu cầu phải được 2/3 số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Về vấn đề này, để đảm bảo tính thống nhất của pháp luật, tính tối thượng của Hiến pháp và quan trọng hơn để tăng cường pháp chế XHCN cần sớm khắc phục những sai lầm cơ bản, những biểu hiện vi hiến. Như việc các cơ quan hữu quan đã đưa cả nội dung sửa đổi Hiến pháp 1992 vào các chương trình lập pháp năm 2000 và năm 2001 của Quốc hội để rồi nội dung này được thông qua theo qui trình lập pháp (chỉ cần quá 1/2 số đại biểu Quốc hội tán thành) thay vì lẽ ra phải được thông qua theo một qui trình lập hiến (yêu cầu phải được 2/3 số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành theo đúng qui định tại Điều 147 Hiến pháp 1992). Mọi chủ thể đều có nghĩa vụ phải chấp hành pháp luật Nguyên tắc này đòi hỏi phải đưa những yêu cầu của pháp luật vào thực tế đời sống; mọi chủ thể cần phải xử sự phù hợp với pháp luật.
Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, bất cứ chủ thể nào có hành vi vi phạm pháp luật đều bị truy cứu trách nhiệm pháp lý. Pháp chế XHCN xa lạ với những biểu hiện phân biệt đối xử và đặc quyền, đặc lợi, không cho phép lạm dụng chức vụ, quyền hạn lẩn tránh hoặc cố tình làm trái pháp luật. Để tránh tình trạng hệ thống pháp luật của Nhà nước đã được ban hành đáng kể nhưng chấp hành không nghiêm, trước hết Nhà nước mà cụ thể trong đó là các cơ quan trong bộ máy nhà nước, các cán bộ công chức phải nghiêm chỉnh thi hành và chấp hành pháp luật. Nhà nước chỉ được làm những gì luật cho phép nhằm hạn chế tối đa sự lạm quyền trong tổ chức cũng như hoạt động của bộ máy nhà nước.
Đối với các chủ thể pháp luật khác ngoài nhà nước thì được làm tất cả trừ những gì luật cấm. Đó là cơ sở pháp lý vững chắc đảm bảo cho các quyền tự do dân chủ của công dân được thực hiện. Bảo đảm tính tối cao của hiến pháp và các đạo luật Điều 146 Hiến pháp năm 1992 quy định: "Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp".
Những đạo luật có hiệu lực thấp hơn Hiến pháp nhưng cao hơn những văn bản dưới luật. Những văn bản dưới luật phải được ban hành trên cơ sở và để thi hành Hiến pháp và các đạo luật, không được trái với Hiến pháp và các đạo luật đó. Bảo đảm thực hiện và bảo vệ các quyền và tự do của công dân đã được pháp luật quy định Trong xã hội ta, công dân có những quyền tự do, dân chủ rộng rãi. Một trong những yêu cầu quan trọng nhất của pháp chế là phải bảo đảm và bảo vệ những quyền dân chủ đó.
Công dân khi sử dụng các quyền tự do được pháp luật ghi nhận, không được gây thiệt hại cho lợi ích nhà nước và xã hội, cũng như lợi ích của các công dân khác. Ngăn chặn kịp thời và xử lý nhanh chóng, công minh mọi vi phạm pháp luật Bất kỳ vi phạm pháp luật nào cũng có hại cho lợi ích của nhà nước, xã hội và công dân. Bởi vậy, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xử lý nhanh chóng, công minh và có hiệu quả đối với những vi phạm đó. Để làm được điều này cần phải chỉnh đốn tổ chức, thi hành những biện pháp có hiệu lực nhằm ngăn chặn và loại trừ tệ tham nhũng, hối lộ, cửa quyền, nghiêm trị những phần tử biến chất, lợi dụng danh nghĩa Đảng và chính quyền để đục khoét, áp bức quần chúng.
Các cơ quan tòa án, kiểm sát, thanh tra, công an,… phải dựa vào nhân dân để phát hiện và xử lý kịp thời những vụ vi phạm pháp luật. Mỗi công dân cũng cần hiểu rõ nếu họ vi phạm pháp luật sẽ không tránh khỏi phải chịu sự cưỡng chế của nhà nước dưới hình thức các biện pháp trách nhiệm pháp lý. Các qui phạm pháp luật nói riêng và pháp luật nói chung luôn là đại lượng của dân chủ, công bằng và tự do. Do đó, nó là khuôn mẫu, là chuẩn mực hành vi, là thước đo của hành vi xử sự trong đời sống xã hội.
Bất cứ hành vi nào vi phạm pháp luật, trái với các qui phạm pháp luật đều là đi ngược lại với lợi ích của của cộng đồng, lợi ích của toàn xã hội. Do vậy, để bảo đảm trật tự xã hội cần thiết phải ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích hợp pháp của công dân và của nhà nước. Việc ngăn chặn và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật cũng đồng thời là phương tiện bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Bởi trong Nhà nước pháp quyền XHCN, thì pháp luật, các cơ quan thi hành pháp luật và pháp chế XHCN luôn là chỗ dựa vật chất và tinh thần của người dân trong việc tìm đến công lý và công bằng.
Tính pháp chế thống nhất với tính hợp lý và sự công bằng Giữa pháp chế và tính hợp lý có mối liên hệ chặt chẽ, vì pháp luật XHCN thể hiện chính sách có cơ sở khoa học của Đảng và là ý chí của đại đa số các tầng lớp nhân dân. Bởi vậy, các quy phạm pháp luật mang tính công bằng và hợp lý. Tính pháp chế đòi hỏi mọi hoạt động phải trong khuôn khổ pháp luật và không trái với pháp luật. Không một sự vi phạm pháp luật nào có thể biện hộ bằng tính hợp lý.
Sự lạc hậu của những quy phạm pháp luật trước yêu cầu mới của cuộc sống không làm đình chỉ hiệu lực của nó. Chỉ những cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có quyền sửa đổi các quy phạm đó. Tuân thủ nghiêm chỉnh kỷ luật nhà nước và xã hội Trong xã hội ta, những yêu cầu cơ bản của kỷ luật nhà nước, kỷ luật xã hội và cách thức bảo đảm nó được xác định trong những văn bản pháp luật. Mặt khác, sự tuân thủ pháp luật là một trong những yêu cầu quan trọng nhất của kỷ luật nhà nước và kỷ luật xã hội.
Để đảm bảo tính tổ chức của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, cần phải chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật nhà nước. Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở nước ta Pháp chế XHCN là một khái niệm pháp lý sâu rộng. Xét về hình thức, hiện tượng, pháp chế XHCN là trạng thái hành vi pháp lý (hành vi hành động và không hành động) phù hợp với quy định của pháp luật của tất cả các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật. Xét về bản chất, pháp luật của một nhà nước quy định bản chất của chế độ pháp chế mà nhà nước đó thiết lập và duy trì.
Tính đa dạng của pháp chế thể hiện trong các loại hành vi pháp lý được thực hiện trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.