phần mở đầu, phần kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 2 chương, 4 tiết. 12 z Chƣơng 1 TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN 1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân 1. Những khái niệm liên quan * Dân - nhân dân Dân theo T điển Tiếng Việt là người sống trong một khu vực địa lý hoặc hành chính, trong quan hệ với khu vực ấy , hoặc thuộc lớp người đông đảo nhất, trong quan hệ với bộ phận cầm quyền, bộ phận lãnh đạo… 82, tr.
Như vậy, dân một khái niệm rất cơ bản trong tư tưởng chính trị - xã hội, v a có nhiều ngh a lại v a đồng ngh a với những khái niệm tương ứng, thường được dùng để thay thế trong một số trường hợp nhất định (như khái niệm nhân dân, quần chúng, đồng bào, dân tộc…). Còn nhân dân là đông đảo những người dân, thuộc mọi tầng lớp, đang sống trong một khu vực địa lý nào đó 82, tr. Nhân dân là một khái niệm có ý ngh a chính trị, nói về một xã hội đã phân chia thành giai cấp, thành các tập toàn người có địa vị và lợi ích khác nhau. Nhân dân không đồng nhất với dân cư.
Nhân dân là khối người đông đảo trong dân cư, có ngh a là phần lớn dân cư chứ không phải là toàn bộ dân cư. Nhân dân bao gồm những người thuộc các giai cấp và tầng lớp lao động không bóc lột, trực tiếp sản xuất ra của cải cho xã hội, có khả năng tham gia giải quyết những nhiệm vụ phát triển tiến bộ xã hội. Quan niệm này phù hợp với quan niệm của Hồ Chí Minh khi Người kh ng định: Nhân dân và quốc dân khác nhau. Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản dân tộc và những phần tử yêu nước.
Đó là nền tảng của quốc dân [27, tr. Như vậy, khi nhắc khái niệm dân hay các khái niệm tương ứng (nhân dân) thì có nhiều cách nhìn nhận, đánh giá và phân tích ở nhiều chiều cạnh khác nhau. 13 z Nhưng tựu chung, lại chúng ta có thể khái quát: Dân là một khái niệm xuất hiện và tồn tại trong xã hội có giai cấp, có Nhà nước. Dân còn là khái niệm ch những người lao động bình thường, không có chức quyền và đối diện với những người cầm quyền cai trị ở các địa bàn, lãnh th , các nghề nghiệp khác nhau trong các l nh vực sản xuất vật chất và hoạt động tinh thần của một xã hội nhất định.
Do vậy, khái niệm dân mang màu sắc và ý ngh a chính trị khá rõ rệt và phần nào phản ánh mối quan hệ giữa các giai cấp trong xã hội. Quan niệm về dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải tự nhiên xuất hiện, cũng không phải do bản thân Người sáng tạo ra, mà đó chính là cả một quá trình Người tìm tòi, nghiên cứu, phê phán, kế th a và chọn lọc những tư tưởng, quan điểm về dân trong lịch sử dân tộc và nhân loại. Kh ng Tử - một nhà triết học lớn của Trung Quốc thời Xuân Thu là người có học vấn uyên thâm, đã có tư tưởng đề cao vai trò của dân, đồng thời nêu rõ trách nhiệm của vua đối với dân. Ông coi điều kiện quan trọng nhất của đối với nhà cầm quyền là phải được lòng dân.
Ông cũng cho r ng, muốn được lòng dân, nhà cầm quyền phải biết cách dưỡng dân, tức là chăm lo cải thiện đời sống cho dân, và phải biết giáo dân. Dưỡng dân tức là phải biết sử dân d thì , có ngh a là sai khiến dân làm việc gì thì phải hợp thời, phải tùy lúc, phải biết giảm thuế cho dân khi mất mùa, phải chịu khó lo liệu cho dân và đặc biệt là phải biết làm cho dân giàu. Giáo dân, theo Kh ng Tử đó là công việc dạy giỗ, giáo dục dân. Đây là công việc vô cùng quan trọng của người cầm quyền, có tác dụng hơn cả dùng pháp luật, vì nhờ giáo hóa mà dân hiểu biết l ngh a, và khi làm sai khuôn phép thì biết h thẹn.
Tuy nhiên, trong quan niệm của Kh ng Tử về dân không phải bao gồm tất cả những người cùng kh trong dân chúng. Có thế nói, đây là những quan niệm tiến bộ về dân trong tư tưởng c đại Trung Hoa có ảnh hưởng lớn đến xã hội Việt Nam t hàng ngàn năm nay mà Hồ Chí Minh là người kế th a có chọn lọc cũng như vận dụng một cách sáng tạo trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người vì dân, vì nước. 14 z Lịch sử Việt Nam cũng có tư tưởng truyền thống đặc sắc và tiến bộ về vai trò và sức mạnh của dân - nhân dân, coi nhân dân là gốc của nước. Dân gian Việt Nam đã có câu Quan nhất thời, dân vạn đại để nói về vai trò của nhân dân.
Điều này có ngh a là dân gắn với xã hội loài người, còn nhân dân, có nhân dân thì còn sự tồn tại của xã hội; vua, quan ch xuất hiện và trở thành một tầng lớp khi xã hội đã có giai cấp đã có nhà nước. Nhà Trần thế k XIII đã ba lần đại thắng quân xâm lược Nguyên - Mông hung hãn. Nói về nguyên nhân cơ bản của thắng lợi đó, Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn đã nhấn mạnh là do Vua tôi đồng tâm, anh em hòa thuận, cả nước góp sức , huy động sức mạnh của toàn dân. Vì vậy mà, cần phải khoan thư sức dân để làm kế bền gốc, sâu r , đó là thượng sách giữ nước.
Cuối thế k XIX đầu thế k XX khi thực dân Pháp đã thiết lập xong ách thống trị lên đất nước ta, phong trào yêu nước của nhân dân ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Các phong trào đấu tranh yêu nước của các bậc s phu đã nhận được sự ủng hộ của nhân dân, tuy nhiên do hạn chế về tầm nhìn, vì còn mang nặng cốt cách phong kiến, vì chưa có một đường lối đúng đắn… nên cuối cùng các phong trào đấu tranh yêu nước ấy đã thất bại. Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đất nước đắm chìm trong đêm trường nô lệ, yêu nước và quyết tâm tìm đường cứu dân cứu nước, Nguy n Tất Thành- Nguy n Ái Quốc- Hồ Chí Minh dù rất khâm phục tinh thần yêu nước của các bậc tiền bối, song không đồng tình với chủ trương và cách làm của các cụ. Người quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước và trong hành trình ấy Người đã đến với chủ ngh a Mác- Lênin, đến với con đường cứu nước trong thời đại mới- con đường cách mạng vô sản.
Dân và quần chúng nhân dân theo quan niệm của chủ ngh a Mác - Lênin rất khoa học, rõ ràng và phù hợp với thực ti n lịch sử. Quần chúng nhân dân trong quan điểm của chủ ngh a Mác - Lênin bao gồm rộng rãi các tầng lớp nhân dân, không ch là riêng giai cấp công nhân mà là tất cả những người lao động, bị 15 z bóc lột trong xã hội. Trong cuộc cách mạng vô sản, giai cấp công nhân là người có sứ mệnh lịch sử thủ tiêu chế độ áp bức bóc lột tư bản chủ ngh a, xây dựng chế độ mới xã hội chủ ngh a, song để làm được điều đó, nhất là trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, họ phải liên minh với các tầng lớp nhân dân nông dân, trí thức, tiểu tư sản… , và nhất là họ phải xây dựng được chính Đảng kiểu mới- bao gồm những người con ưu tú nhất của giai cấp và của dân tộc. Mặc dù kh ng định vai trò của quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử, quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội, song chủ ngh a Mác - Lênin không hề phủ nhận mà vẫn đánh giá coi trọng đúng đắn vai trò của cá nhân, những v nhân, những anh hùng hào kiệt, những thủ l nh của một phong trào, một t chức và trong đời sống xã hội, một quốc gia, một thời đại.
V nhân, cá nhân kiệt xuất đóng vai trò rất to lớn đối với tiến trình phát triển của xã hội, phản ánh được thực trạng, yêu cầu và sự vận động, phát triển của xã hội, đề ra được đường lối, mục tiêu hoạt động đúng đắn và biết cách tập hợp, t chức, động viên lực lượng quần chúng thực hiện nhiệm vụ cách mạng. Hồ Chí Minh, ngoài việc kh ng định sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân, còn đánh giá và ghi nhận công lao to lớn của những cá nhân anh hùng. Người đã t ng nói: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta… Lịch sử ta có nhiều cuộc kháng chiến v đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta.
Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung,v. Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của cả một dân tộc anh hùng [26, tr. Đồng thời, kh ng định: Trong Đảng ta có biết bao nhiêu anh hùng liệt s như các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguy n Vãn C , Hoàng Văn Thụ, Nguy n Thị Minh Khai và hàng vạn đảng viên gương mẫu trung với nước, hiếu với dân , khí phách hiên ngang cho đến hơi thở cuối cùng như liệt s Nguy n Văn Trỗi. Không ch có vậy, đó còn là biết bao tấm gương của cán bộ, đảng viên, nhưng chiến s trên mặt trận sản xuất, 16 z trên trận tuyến đánh quân thù bảo vệ T quốc, một lòng một dạ phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân.
Họ là những đảng viên bình thường nhưng ph m chất cách mạng của họ thật cao quý. Đảng ta rất tự hào có những người con xứng đáng ấy của giai cấp và của dân tộc [33, tr. Hồ Chí Minh cũng là một người Việt Nam tiêu biểu nhất, đẹp nhất là tinh hoa và khí phách dân tộc, lương tâm của thời đại , một tấm gương của người đảng viên cộng sản mẫu mực hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, đúng như P. Pêrugia, nhà sử học Italia đã nhận xét: Người là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta, mà người ta có thể nói r ng: không có Người, lịch sử có thể đã đi theo một con đường khác.